Home
»
Posts filed under
Phật học
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật học. Hiển thị tất cả bài đăng
Cứu độ vong linh trong giai đoạn thân trung ấm
Việc cứu độ trong giai đoạn nầy muốn đạt hiệu quả, thiết nghĩ chúng ta cần nghiên cứu đặc điểm căn bản của thân trung ấm để có thể ứng dụng hợp tình hợp lý:
A. Vài đặc điểm của thân trung ấm:
1. Sau khi chết người cực thiện vãng sinh ngay về cõi lành, kẻ cực ác thì nghiệp lực lôi kéo về cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh tức thời, phần đông còn lại phải trải qua giai đoạn thân trung ấm, là giai đoạn tạm thời chờ đợi để chiêu cảm thêm nghiệp lực quyết định cho nẻo tái sinh cho cuộc sống kế tiếp.
2. Thân trung ấm nầy chỉ kéo dài được bảy ngày, nếu chưa tái sinh thần thức phải trải qua một kinh nghiệm chết rồi sống trở lại với thân trung ấm mới trong bảy ngày nữa, diễn tiến sống chết tiếp nối nầy có thể kéo dài thân trung ấm trong thời gian tối đa là 7 tuần tức 49 ngày.
3. Mỗi lần thân trung ấm lập lại cái kinh nghiệm chết, nó phải tái diễn trọn vẹn tình tiết của lần chết chính thức: người chết an lành trải nghiệm lại cái chết an lành; người chết vật vã, đau đớn kinh hoàng... trải qua kinh nghiệm đau khổ đó mãnh liệt gấp 7 lần khi chết (nguyên nhân vì thân trung ấm thuần tâm linh, không có thân xác thịt ngăn trở nên ý thức khổ đau hay an lạc đều mãnh liệt gấp bảy lần lúc sống).
1. Sau khi chết người cực thiện vãng sinh ngay về cõi lành, kẻ cực ác thì nghiệp lực lôi kéo về cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh tức thời, phần đông còn lại phải trải qua giai đoạn thân trung ấm, là giai đoạn tạm thời chờ đợi để chiêu cảm thêm nghiệp lực quyết định cho nẻo tái sinh cho cuộc sống kế tiếp.
2. Thân trung ấm nầy chỉ kéo dài được bảy ngày, nếu chưa tái sinh thần thức phải trải qua một kinh nghiệm chết rồi sống trở lại với thân trung ấm mới trong bảy ngày nữa, diễn tiến sống chết tiếp nối nầy có thể kéo dài thân trung ấm trong thời gian tối đa là 7 tuần tức 49 ngày.
3. Mỗi lần thân trung ấm lập lại cái kinh nghiệm chết, nó phải tái diễn trọn vẹn tình tiết của lần chết chính thức: người chết an lành trải nghiệm lại cái chết an lành; người chết vật vã, đau đớn kinh hoàng... trải qua kinh nghiệm đau khổ đó mãnh liệt gấp 7 lần khi chết (nguyên nhân vì thân trung ấm thuần tâm linh, không có thân xác thịt ngăn trở nên ý thức khổ đau hay an lạc đều mãnh liệt gấp bảy lần lúc sống).
Điểm cần lưu ý khác là trong giai đoạn thoáng qua của Trung Ấm tái sinh, mọi nghiệp ác của các đời trước đều chiếu hiện trở lại, một cách cô đọng cường liệt, làm cho thần thức bối rối tột cùng.
Đây là lý do tại sao Phật Giáo có lệ tụng niệm cho người chết liên tiếp “bảy thất”, mỗi thất nếu sắp xếp tổ chức kịp thời vừa trước phút thân trung ấm phải trải nghiệm lập lại cái chết thì quí giá vô cùng, sự kiện đó giúp thân trung ấm cảm nhận niềm bình an, một nhân tố lợi lạc cho việc tái sinh.
4. Có thể nói Thân Trung ấm có thần thông, một trạng thái tinh tế thấy, nghe, hay biết tâm ý người sống, cũng có thể đi khắp nơi trong chớp mắt, xuyên qua tất cả chướng ngại vật, tóm lại tâm người chết ở giai đoạn này hết sức bén nhạy, nhưng cũng rất phân tán và thường bất an. (Do đó, tang quyến nên luôn luôn sinh tâm thương yêu quí kính với người chết, nên nhớ là dầu chỉ móng niệm trong lòng ý khinh bạc, bất hiếu, cũng bị người chết khám phá được mà sinh tức giận đọa vào ác đạo; nếu thân quyến cãi vã tranh chấp nhau thì tình trạng càng tệ hại)
5. Thời gian 49 ngày là giai đoạn quan trọng nhất để người sống giúp đỡ người chết, giúp họ tạo cận tử nghiệp lành, tức là giúp họ chuyển vọng về chân, chuyển phàm thành Thánh một cách dễ dàng.
Đây là lý do tại sao Phật Giáo có lệ tụng niệm cho người chết liên tiếp “bảy thất”, mỗi thất nếu sắp xếp tổ chức kịp thời vừa trước phút thân trung ấm phải trải nghiệm lập lại cái chết thì quí giá vô cùng, sự kiện đó giúp thân trung ấm cảm nhận niềm bình an, một nhân tố lợi lạc cho việc tái sinh.
4. Có thể nói Thân Trung ấm có thần thông, một trạng thái tinh tế thấy, nghe, hay biết tâm ý người sống, cũng có thể đi khắp nơi trong chớp mắt, xuyên qua tất cả chướng ngại vật, tóm lại tâm người chết ở giai đoạn này hết sức bén nhạy, nhưng cũng rất phân tán và thường bất an. (Do đó, tang quyến nên luôn luôn sinh tâm thương yêu quí kính với người chết, nên nhớ là dầu chỉ móng niệm trong lòng ý khinh bạc, bất hiếu, cũng bị người chết khám phá được mà sinh tức giận đọa vào ác đạo; nếu thân quyến cãi vã tranh chấp nhau thì tình trạng càng tệ hại)
5. Thời gian 49 ngày là giai đoạn quan trọng nhất để người sống giúp đỡ người chết, giúp họ tạo cận tử nghiệp lành, tức là giúp họ chuyển vọng về chân, chuyển phàm thành Thánh một cách dễ dàng.
Theo Dudjom Rinpoche giải thích thì trong 21 ngày đầu của thời gian Trung Ấm, người chết vẫn còn một số ấn tượng mạnh về đời sống vừa qua, vì vậy đây là giai đoạn quan trọng nhất để người sống giúp đỡ người chết.
Sau đó, kiếp tái sinh dần dần tượng hình và trở thành ảnh hưởng chính, nên cơ hội chuyển nghiệp cho họ khó khăn hơn 21 ngày đầu.
6. Sau 49 ngày nếu chưa đầu thai, thì thần thức sẽ không còn dưới dạng thân trung ấm nên cũng không còn chịu tái diễn kinh nghiệm sống chết sau mỗi bảy ngày nữa, vì đã chuyển sang kiếp quỷ thần rồi. Từ thời điểm nầy thì việc cứu độ vong linh trở nên khó khăn bội phần.
6. Sau 49 ngày nếu chưa đầu thai, thì thần thức sẽ không còn dưới dạng thân trung ấm nên cũng không còn chịu tái diễn kinh nghiệm sống chết sau mỗi bảy ngày nữa, vì đã chuyển sang kiếp quỷ thần rồi. Từ thời điểm nầy thì việc cứu độ vong linh trở nên khó khăn bội phần.
B. Vai trò và phương pháp cứu độ:
1. Vai trò tự tu tự độ của hương linh:
- Phải ý thức rõ rệt rằng tự thân hương linh phải thức tỉnh và chuyển hóa thì sự vãng sinh, siêu thoát mới có cơ thành tựu, nếu hương linh cố chấp, bám chặt vào si mê, tham đắm danh lợi, giận hờn chất ngất thì tất cả nổ lực hỗ trợ của thân nhân và chư tu sĩ đều vô ích.
- Vì vậy, nếu hương linh đã có nếp sống đạo đức, đã từng quy ngưỡng Phật pháp thì chỉ cần nghe lời khai thị, nghe tụng niệm, nghe nhắc nhở... cũng có thể tức thời chuyển hóa được.
- Hương linh dẫu chưa từng Niệm Phật nhưng nhờ có căn lành, nương vào thành tâm của thân quyến, mà quy ngưỡng Phật, một lòng Niệm Phật không loạn động, cũng có thể được Thánh chúng tiếp dẫn về cõi Tây Phương.
2. Vai trò của thân quyến (đặc biệt là lòng thành tâm, hiếu đạo):
- Gia quyến cũng đóng vai trò tối quan trọng trong việc cứu độ người chết, vì chỉ có thân quyến do những cộng nghiệp ràng buộc, những dính mắc sâu xa với người chết mới có đủ nhân duyên giao cảm khiến người chết hoan hỷ đón nhận mà phát thiện tâm, chuyển biến nghiệp dữ thành nghiệp lành.
- Do đó thân quyến phải nên thường trực giữ lòng chân thành hiếu thảo đối với người chết, nên ghi nhớ là trong thời gian 49 ngày, thần thức người chết rất bén nhạy hiểu biết rõ rệt tâm tư người sống, vì vậy điều kiện tiên quyết khi làm bất cứ Phật sự gì thân quyến cũng nên hướng thành tâm về người chết, thương yêu cầu nguyện thì thần thức họ sẽ cảm ứng mà an vui, nhờ vậy niệm lành sanh khởi mà được siêu sinh. (Ngược lại, trong thời gian nầy nếu con cháu sinh tâm ngỗ nghịch, phát ngôn bừa bãi, sinh sự bất hòa thì thần thức người chết biết rõ nảy lòng khổ sở, giận hờn mà bị đọa lạc)
- Thân quyến cũng có thể trợ duyên cho hương linh chuyển hóa bằng phương pháp ăn chay, tụng niệm, làm các việc phước thiện... hồi hướng cho hương linh. (Theo kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, phẩm thứ 7 thì trong bảy phần công đức, hương linh cũng hưởng một phần)
- Thân quyến cũng nên tránh sát sanh hại vật nhân danh tang lễ để tổ chức đãi đằng khiến hương linh phải liên đới trách nhiệm về nghiệp sát mới nữa.
3. Vai trò tăng ni chủ lễ:
- Theo Hoà Thượng Thánh Nghiêm thì “ không nhất thiết phải mời Tăng Ni đến tụng kinh. Tăng Ni khi được cúng dường thì chỉ chú nguyện cho thí chủ mà thôi”, có thể hiểu là trong các lễ cầu siêu nếu mời được chư Tăng Ni thì tốt, nếu không thuận duyên hay vì một lý do nào đó không thể mời được thì chính gia quyến chí thành tụng niệm cũng có giá trị.
1. Vai trò tự tu tự độ của hương linh:
- Phải ý thức rõ rệt rằng tự thân hương linh phải thức tỉnh và chuyển hóa thì sự vãng sinh, siêu thoát mới có cơ thành tựu, nếu hương linh cố chấp, bám chặt vào si mê, tham đắm danh lợi, giận hờn chất ngất thì tất cả nổ lực hỗ trợ của thân nhân và chư tu sĩ đều vô ích.
- Vì vậy, nếu hương linh đã có nếp sống đạo đức, đã từng quy ngưỡng Phật pháp thì chỉ cần nghe lời khai thị, nghe tụng niệm, nghe nhắc nhở... cũng có thể tức thời chuyển hóa được.
- Hương linh dẫu chưa từng Niệm Phật nhưng nhờ có căn lành, nương vào thành tâm của thân quyến, mà quy ngưỡng Phật, một lòng Niệm Phật không loạn động, cũng có thể được Thánh chúng tiếp dẫn về cõi Tây Phương.
2. Vai trò của thân quyến (đặc biệt là lòng thành tâm, hiếu đạo):
- Gia quyến cũng đóng vai trò tối quan trọng trong việc cứu độ người chết, vì chỉ có thân quyến do những cộng nghiệp ràng buộc, những dính mắc sâu xa với người chết mới có đủ nhân duyên giao cảm khiến người chết hoan hỷ đón nhận mà phát thiện tâm, chuyển biến nghiệp dữ thành nghiệp lành.
- Do đó thân quyến phải nên thường trực giữ lòng chân thành hiếu thảo đối với người chết, nên ghi nhớ là trong thời gian 49 ngày, thần thức người chết rất bén nhạy hiểu biết rõ rệt tâm tư người sống, vì vậy điều kiện tiên quyết khi làm bất cứ Phật sự gì thân quyến cũng nên hướng thành tâm về người chết, thương yêu cầu nguyện thì thần thức họ sẽ cảm ứng mà an vui, nhờ vậy niệm lành sanh khởi mà được siêu sinh. (Ngược lại, trong thời gian nầy nếu con cháu sinh tâm ngỗ nghịch, phát ngôn bừa bãi, sinh sự bất hòa thì thần thức người chết biết rõ nảy lòng khổ sở, giận hờn mà bị đọa lạc)
- Thân quyến cũng có thể trợ duyên cho hương linh chuyển hóa bằng phương pháp ăn chay, tụng niệm, làm các việc phước thiện... hồi hướng cho hương linh. (Theo kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, phẩm thứ 7 thì trong bảy phần công đức, hương linh cũng hưởng một phần)
- Thân quyến cũng nên tránh sát sanh hại vật nhân danh tang lễ để tổ chức đãi đằng khiến hương linh phải liên đới trách nhiệm về nghiệp sát mới nữa.
3. Vai trò tăng ni chủ lễ:
- Theo Hoà Thượng Thánh Nghiêm thì “ không nhất thiết phải mời Tăng Ni đến tụng kinh. Tăng Ni khi được cúng dường thì chỉ chú nguyện cho thí chủ mà thôi”, có thể hiểu là trong các lễ cầu siêu nếu mời được chư Tăng Ni thì tốt, nếu không thuận duyên hay vì một lý do nào đó không thể mời được thì chính gia quyến chí thành tụng niệm cũng có giá trị.
Dù sao, khi tang gia bối rối, nếu được vị thầy kinh nghiệm hướng dẫn thì người sống cảm thấy an lòng, mà hương linh cũng có điều kiện chuyển hóa hơn.
- Nếu vị chủ lễ là bậc thầy đạo đức từng được hương linh kính trọng thì pháp nhủ của thầy sẽ giúp hương linh chuyển hóa rất mạnh. (Cũng nên lưu ý là thần thức hương linh tinh tế, nên một vị thầy dầu lễ tụng nhuần nhuyễn mà bụng dạ kém đoan chính, lại có thể khiến hương linh thấu rõ mà sanh tâm phiền não)
- Được chư tăng ni chủ lễ thì tang lễ có thể hoàn mãn đầy đủ mọi nghi thức: Lễ Nhập Quan, Lễ Phục Tang, Lễ cầu siêu và cúng cơm, Lễ Di Quan, Lễ An Táng.
4. Linh Tinh:
- Chương trình kết thúc tang lễ, gồm các tiếc mục: Cung thỉnh chư tăng ni, cảm niệm người quá cố, quan khách phát biểu, lời cảm tạ của gia quyến... nên sắp xếp tổ chức ngay trước lễ di quan, vì nếu chờ đến khi hoàn mãn - an táng xong - thì trật tự không còn nữa...
- Trường hợp cư trú tại địa phương không có điều kiện mời tăng ni chủ lễ: Trong hoàn cảnh nầy, theo lời dạy của chư hòa thượng, gia chủ nên mạnh dạn tự mình hay nhờ cư sĩ hiểu biết, tuỳ tiện nương theo kinh Phật mà đọc tụng kinh và Niệm Phật cầu siêu, thì cũng có kết quả tốt đẹp.
- Nếu vị chủ lễ là bậc thầy đạo đức từng được hương linh kính trọng thì pháp nhủ của thầy sẽ giúp hương linh chuyển hóa rất mạnh. (Cũng nên lưu ý là thần thức hương linh tinh tế, nên một vị thầy dầu lễ tụng nhuần nhuyễn mà bụng dạ kém đoan chính, lại có thể khiến hương linh thấu rõ mà sanh tâm phiền não)
- Được chư tăng ni chủ lễ thì tang lễ có thể hoàn mãn đầy đủ mọi nghi thức: Lễ Nhập Quan, Lễ Phục Tang, Lễ cầu siêu và cúng cơm, Lễ Di Quan, Lễ An Táng.
4. Linh Tinh:
- Chương trình kết thúc tang lễ, gồm các tiếc mục: Cung thỉnh chư tăng ni, cảm niệm người quá cố, quan khách phát biểu, lời cảm tạ của gia quyến... nên sắp xếp tổ chức ngay trước lễ di quan, vì nếu chờ đến khi hoàn mãn - an táng xong - thì trật tự không còn nữa...
- Trường hợp cư trú tại địa phương không có điều kiện mời tăng ni chủ lễ: Trong hoàn cảnh nầy, theo lời dạy của chư hòa thượng, gia chủ nên mạnh dạn tự mình hay nhờ cư sĩ hiểu biết, tuỳ tiện nương theo kinh Phật mà đọc tụng kinh và Niệm Phật cầu siêu, thì cũng có kết quả tốt đẹp.
Thật ra, Pháp Phật là pháp để tu học, lắng nghe tìm hiểu mà chuyển hóa, chớ không phải là một pháp mầu cần phải tụng theo âm điệu, chuông mõ “rình rang” mới hiệu nghiệm.
Vấn đề là gia chủ cần phải có tâm thành, hết lòng hết sức vì hương linh mà tha thiết thưa thốt nhắc nhở, thì mặc dầu tang lễ đơn sơ mộc mạc mà giá trị tinh thần vẫn có thể rất sâu xa.
Thí dụ như khi thọ tang gia chủ có thể thân thương cất tiếng: “Thưa Mẹ (hoặc Ông, bà. Cha...) Mẹ ơi! Mẹ đã suốt đời tận tụy hi sinh gánh chịu bao điều gian khổ để chăm sóc chúng con. Ơn mẹ bao la như trời biển, chúng con chỉ gây khổ đau cho mẹ chớ chưa báo đền chút ân tình sâu dầy thì nay mẹ đã ra đi rồi.
Giờ đây, quỳ trước linh đài mẹ, chúng con xin chính thức thọ tang, chúng con chỉ biết thành tâm sám hối, thành tâm tụng niệm cầu cho mẹ được an vui nơi tịnh thổ. Chúng con xin tụng đọc lời Phật dạy về cõi Phật A di Đà và niệm Phật hồi hướng cho mẹ.
Xin mẹ lắng lòng nghe, xin mẹ cùng niệm Phật với chúng con. Xin mẹ lắng lòng tưởng nhớ đến Phật và xin buông bỏ đừng bận tâm gì chuyện đời nữa!..”
Đây chỉ là một gợi ý đơn giản, gia chủ nên tuỳ nghi theo tình tiết riêng của gia đình mà bộc bạch.
5. Lo lắng sau đám tang:
- Tổ chức lễ cúng thất, mỗi 7 ngày, nhất là lễ chung thất tức thất cuối cùng thứ bảy tại chùa.
- Ngoài nghi lễ chinh thức nầy, hằng ngày hằng giờ nếu tưởng nhớ đến người quá cố, thân quyến nên tiếp tục niệm Phật hồi hướng, với niềm tin tưởng vững chắc rằng lòng thành của mình sẽ được hương linh cảm ứng mà phát tâm lành.
- Về tiền phúng điếu, nếu có phương tiện, đề nghị nên xử dụng vào các công tác phước thiện, tạo duyên phước cho hương linh lẫn người gởi phúng điếu.
- Thời gian tốt nhất để tu tập cho người chết khi còn giữ dạng thân trung ấm thì 3 tuần đầu là quan trọng nhất vì trong thời điểm nầy người chết còn liên hệ mạnh mẽ với cuộc đời, nên họ dễ dàng nhận sự giúp đỡ của thân quyến, tóm lại sự tu tập của thân quyến ảnh hưởng đến tương lai của người chết rất nhiều, có thể giúp họ giải thoát, hoặc tái sinh tốt đẹp.
5. Lo lắng sau đám tang:
- Tổ chức lễ cúng thất, mỗi 7 ngày, nhất là lễ chung thất tức thất cuối cùng thứ bảy tại chùa.
- Ngoài nghi lễ chinh thức nầy, hằng ngày hằng giờ nếu tưởng nhớ đến người quá cố, thân quyến nên tiếp tục niệm Phật hồi hướng, với niềm tin tưởng vững chắc rằng lòng thành của mình sẽ được hương linh cảm ứng mà phát tâm lành.
- Về tiền phúng điếu, nếu có phương tiện, đề nghị nên xử dụng vào các công tác phước thiện, tạo duyên phước cho hương linh lẫn người gởi phúng điếu.
- Thời gian tốt nhất để tu tập cho người chết khi còn giữ dạng thân trung ấm thì 3 tuần đầu là quan trọng nhất vì trong thời điểm nầy người chết còn liên hệ mạnh mẽ với cuộc đời, nên họ dễ dàng nhận sự giúp đỡ của thân quyến, tóm lại sự tu tập của thân quyến ảnh hưởng đến tương lai của người chết rất nhiều, có thể giúp họ giải thoát, hoặc tái sinh tốt đẹp.
Thời gian kế tiếp - khoảng từ ngày thứ 21 đến ngày thứ 49 - thì hình dạng vật lý của họ bắt đầu quyết định, nên cơ hội giúp họ chuyển nghiệp trở nên khó khăn và bị hạn chế. (Tạng thư sống chết, Thích nữ Trí Hải dịch)
Theo: thuvienhoasen.org
Sơ lược về cõi quỷ thần và quỷ thần biên trụ
Trong thời hạn 49 ngày, nếu không ở vào trường hợp đặc biệt vãng sinh về cõi Phật, thì tuỳ theo nghiệp lực dẫn dắt mà thân trung ấm sẽ tái sinh vào một trong sáu cõi (cũng gọi là lục đạo hay lục thú).
Chúng ta thường tìm thấy trong các tài liệu giáo lý căn bản Phật Giáo thì lục thú là Thiên, Nhân, A tu La, Địa Ngục, Ngạ Quỷ và Súc sanh. Theo nhiều vị đạo sư thì Ngạ Quỷ thú phải được gọi chính xác hơn là Quỷ Thần thú, vì loại chúng sanh nầy rất đa dạng mà Ngạ Quỷ chỉ là một dạng của Quỷ Thần thú mà thôi.
A. Vài đặc điểm của Quỷ Thần Thú:
1.Ý nghĩa các danh từ Quỷ, Thần và Ma:
- Theo kinh sách Phật giáo:
+ Quỷ Thần: Tách rời từng chữ thì "Quỷ" có nghĩa là "úy", là hay khiếp sợ; "Thần" có nghĩa linh thông biến hóa. Quỷ Thần chỉ chung cho một cõi bao gồm cả bậc thần thông biến hóa đầy uy đức (Thần) lẫn hạng chúng sinh cùng khổ kinh sợ (Quỷ).
+ Ma: là những lực xấu làm nhiễu loạn kẻ tu hành. Luận Du-già-sư-địa nêu ra bốn loại ma: Thiên ma, ma ngũ uẩn, ma phiền não, và ma chết. Thiên ma chỉ chúng sinh ở Tha Hóa Tự Tại Thiên tức cõi Trời thứ sáu của Dục giới.
A. Vài đặc điểm của Quỷ Thần Thú:
1.Ý nghĩa các danh từ Quỷ, Thần và Ma:
- Theo kinh sách Phật giáo:
+ Quỷ Thần: Tách rời từng chữ thì "Quỷ" có nghĩa là "úy", là hay khiếp sợ; "Thần" có nghĩa linh thông biến hóa. Quỷ Thần chỉ chung cho một cõi bao gồm cả bậc thần thông biến hóa đầy uy đức (Thần) lẫn hạng chúng sinh cùng khổ kinh sợ (Quỷ).
+ Ma: là những lực xấu làm nhiễu loạn kẻ tu hành. Luận Du-già-sư-địa nêu ra bốn loại ma: Thiên ma, ma ngũ uẩn, ma phiền não, và ma chết. Thiên ma chỉ chúng sinh ở Tha Hóa Tự Tại Thiên tức cõi Trời thứ sáu của Dục giới.
Chính Ma Vương La Tuần của cõi nầy cùng đám ma nữ giở mọi trò biến hóa mong phá hoại Đức Bổn sư Thích Ca khi Ngài sắp thành Phật.
Còn ba thứ ma kia không phải là một loài chúng sinh mà chỉ là thứ mãnh lực tiêu cực phát xuất từ sinh lý và tâm lý của con người, cũng gây nhiễu loạn và phá hoại công đức kẻ tu hành.
- Theo tín ngưỡng dân gian:
+ Thần: bậc siêu phàm khuất mặt, linh thiêng có thể gây phúc họa được người tôn thờ.
+ Ma: người đã chết nói chung (nên thây người chết gọi là thây ma) và cũng chỉ riêng cho hình bóng người chết hiện hình.
+ Quỷ: là loại ma hung dữ gây tác hại và nguy hiểm cho người sống.
- Tóm lược: Chữ Quỷ trong Phật giáo bao gồm cả hai loại Ma và Quỷ theo dân gian, riêng chữ Ma theo Phật giáo có ý nghĩa khác biệt như đã ghi trên.
2. Chủng loại Quỷ Thần:
Quỷ thần có vô số chủng loại và hiện hữu ở khắp cõi khác, từ cõi thiên cho đến địa ngục, súc sinh. Ta chỉ có thể tạm chia thành hai loại là: quỷ có uy đức (hay uy phước) và quỷ không có uy đức.
a. Loại uy đức có cung điện, thân tướng trang nghiêm, có nhiều kẻ thuộc hạ tùy tùng, được thọ dụng những trân vị cam lồ, hoặc được người thờ cúng.
- Thiện quỷ thần đại uy đức như chư vị: Đại Phạm Thiên Vương, Tam thập thiên vương, Tứ thiên vương, Diêm Ma vương, Nan đà long vương, Bạt đà long vương...
- Uy đức bậc trung như quỷ Dạ Xoa, quỷ La Sát, quỷ Cưu bàn Trà (Quỷ nầy có thể biến làm cảnh giới ngũ trần vui sướng để hưởng thọ), quỷ Địa hành dạ-xoa (địa hành: đi đất) luôn luôn được nghe những âm nhạc vui vẻ và được ăn uống (theo kinh Chánh Pháp niệm xứ), quỷ Đa tài Đại phúc hưởng phước đức như cõi Trời(theo P.G. Chánh Tín, HT Thánh Nghiêm)
(Ngài Hư Vân cũng lời dạy tương tự với vài hàng vắn tắt như sau: Các quỷ vương như Diêm Vương và Thành Hoàng đều hưởng lạc nhiều mà thọ khổ ít hơn những loài quỷ cô hồn vô chủ. Khổ nhất là loài ngạ quỷ, là loại chúng sanh trong địa ngục thường thọ vô biên khổ cực, chẳng hề được sung sướng)
Trong loại quỷ thần uy đức cũng có thể tùy theo tâm địa mà phân thành:
- thiện quỷ thần (tức chánh thần) là bậc chân chánh hộ trì chánh pháp, hộ trì nhân gian như các bậc Thiên vương đã ghi trên.
- ác quỷ thần như Quỷ La Sát
- vừa thiện vừa ác: như Quỷ Dạ Xoa.
b. Loại không uy đức lâm cảnh vất vả, sống âm u tăm tối, thường đói khát hoặc ăn uống bất tịnh:
- Loại ít đói như quỷ hy vọng (mong cầu người ta thờ cúng tế mới ấm no), quỷ hy khí (mong cầu đồ vật người ta vất bỏ để mà ăn).
- Loại đói nhiều, như quỷ châm mao (lông như kim), quỷ xú mao (lông hôi thối), quỷ đại anh (thân đầy lở lói).
- Loại đói thường trực kinh khủng như các loài ngạ quỷ: quỷ cự khẩu, quỷ châm yết, quỷ xú khẩu (cự khẩu: miệng như lửa; châm yết: cổ như kim; xú khẩu: miệng rất hôi thối).
c. Loại tạm gọi uy đức trung bình: là loại có uy phước chút ít, khó xếp hẳn vào một trong hai loại trên, như:
- quỷ Hy Tự, hành động được tự do, có thể đi hết các phương dễ dàng cũng như chim bay giữa trời, qua lại không ngăn ngại (luật Thuận Chánh Lý, quyển ba)
- quỷ Tự do: những kẻ trong lúc bình sanh không làm lành, cũng không làm dữ; thì sau khi chết rồi không có quả báo gì xuất hiện, cho nên sẽ làm loài quỷ và được tự do. Loài quỷ này thường hay nương náu nơi mồ mả của mình hoặc mồ mả của kẻ khác; dựa theo cái dư khí của cốt tủy mà được hiển linh. Cho nên nếu ai có cúng tế, thì cũng được hưởng thụ. Đến khi xương tủy đã mục nát, thì mất chỗ nương tựa, liền tìm đến chỗ nào xương tủy chưa mục nát và vô chủ để nương tựa (theo Kinh Quán Đảnh)
3. Xứ sở của Quỷ Thần:
Quỷ Thần có nhiều chủng loại, vì vậy trụ xứ của Quỷ Thần cũng hoàn toàn khác biệt, như chư Thiên Vương thỉ dĩ nhiên xứ sở phải là cõi Thiên. Tuy nhiên, riêng đối với chư Quỷ thần thiếu uy đức thì xứ sở của quỷ thần có hai nơi gọi là chánh trụ và biên trụ: Theo kinh Chánh Pháp Niệm thì:
- Chánh trụ là xứ sở riêng của loài quỷ nghiệp nặng, thuộc về thế giới ngạ quỷ, nằm trong thành Diêm La, nơi ở chánh thức của vô số ngạ quỷ do Diêm La Vương thống lãnh.
- Biên trụ là xứ sở của các quỷ thần nghiệp nhẹ hoặc có phước nghiệp, thuộc về hạng ở lẫn lộn trong loài người. Biên trụ là những chỗ như mé biển, triền núi, rừng bụi, đình miếu, hang hố, đồng trống, mồ mả, cho đến vườn nhà cùng các nơi thanh tịnh lẫn bất tịnh.
4. Hình thức tái sinh vào Quỷ Thần thú:
- loại thai sinh rất hiếm như Quỷ La Sát, Quỷ Tử Mẫu...
- loại hóa sinh gần như hầu hết (có thể coi như 99.99%)
- Theo tín ngưỡng dân gian:
+ Thần: bậc siêu phàm khuất mặt, linh thiêng có thể gây phúc họa được người tôn thờ.
+ Ma: người đã chết nói chung (nên thây người chết gọi là thây ma) và cũng chỉ riêng cho hình bóng người chết hiện hình.
+ Quỷ: là loại ma hung dữ gây tác hại và nguy hiểm cho người sống.
- Tóm lược: Chữ Quỷ trong Phật giáo bao gồm cả hai loại Ma và Quỷ theo dân gian, riêng chữ Ma theo Phật giáo có ý nghĩa khác biệt như đã ghi trên.
2. Chủng loại Quỷ Thần:
Quỷ thần có vô số chủng loại và hiện hữu ở khắp cõi khác, từ cõi thiên cho đến địa ngục, súc sinh. Ta chỉ có thể tạm chia thành hai loại là: quỷ có uy đức (hay uy phước) và quỷ không có uy đức.
a. Loại uy đức có cung điện, thân tướng trang nghiêm, có nhiều kẻ thuộc hạ tùy tùng, được thọ dụng những trân vị cam lồ, hoặc được người thờ cúng.
- Thiện quỷ thần đại uy đức như chư vị: Đại Phạm Thiên Vương, Tam thập thiên vương, Tứ thiên vương, Diêm Ma vương, Nan đà long vương, Bạt đà long vương...
- Uy đức bậc trung như quỷ Dạ Xoa, quỷ La Sát, quỷ Cưu bàn Trà (Quỷ nầy có thể biến làm cảnh giới ngũ trần vui sướng để hưởng thọ), quỷ Địa hành dạ-xoa (địa hành: đi đất) luôn luôn được nghe những âm nhạc vui vẻ và được ăn uống (theo kinh Chánh Pháp niệm xứ), quỷ Đa tài Đại phúc hưởng phước đức như cõi Trời(theo P.G. Chánh Tín, HT Thánh Nghiêm)
(Ngài Hư Vân cũng lời dạy tương tự với vài hàng vắn tắt như sau: Các quỷ vương như Diêm Vương và Thành Hoàng đều hưởng lạc nhiều mà thọ khổ ít hơn những loài quỷ cô hồn vô chủ. Khổ nhất là loài ngạ quỷ, là loại chúng sanh trong địa ngục thường thọ vô biên khổ cực, chẳng hề được sung sướng)
Trong loại quỷ thần uy đức cũng có thể tùy theo tâm địa mà phân thành:
- thiện quỷ thần (tức chánh thần) là bậc chân chánh hộ trì chánh pháp, hộ trì nhân gian như các bậc Thiên vương đã ghi trên.
- ác quỷ thần như Quỷ La Sát
- vừa thiện vừa ác: như Quỷ Dạ Xoa.
b. Loại không uy đức lâm cảnh vất vả, sống âm u tăm tối, thường đói khát hoặc ăn uống bất tịnh:
- Loại ít đói như quỷ hy vọng (mong cầu người ta thờ cúng tế mới ấm no), quỷ hy khí (mong cầu đồ vật người ta vất bỏ để mà ăn).
- Loại đói nhiều, như quỷ châm mao (lông như kim), quỷ xú mao (lông hôi thối), quỷ đại anh (thân đầy lở lói).
- Loại đói thường trực kinh khủng như các loài ngạ quỷ: quỷ cự khẩu, quỷ châm yết, quỷ xú khẩu (cự khẩu: miệng như lửa; châm yết: cổ như kim; xú khẩu: miệng rất hôi thối).
c. Loại tạm gọi uy đức trung bình: là loại có uy phước chút ít, khó xếp hẳn vào một trong hai loại trên, như:
- quỷ Hy Tự, hành động được tự do, có thể đi hết các phương dễ dàng cũng như chim bay giữa trời, qua lại không ngăn ngại (luật Thuận Chánh Lý, quyển ba)
- quỷ Tự do: những kẻ trong lúc bình sanh không làm lành, cũng không làm dữ; thì sau khi chết rồi không có quả báo gì xuất hiện, cho nên sẽ làm loài quỷ và được tự do. Loài quỷ này thường hay nương náu nơi mồ mả của mình hoặc mồ mả của kẻ khác; dựa theo cái dư khí của cốt tủy mà được hiển linh. Cho nên nếu ai có cúng tế, thì cũng được hưởng thụ. Đến khi xương tủy đã mục nát, thì mất chỗ nương tựa, liền tìm đến chỗ nào xương tủy chưa mục nát và vô chủ để nương tựa (theo Kinh Quán Đảnh)
3. Xứ sở của Quỷ Thần:
Quỷ Thần có nhiều chủng loại, vì vậy trụ xứ của Quỷ Thần cũng hoàn toàn khác biệt, như chư Thiên Vương thỉ dĩ nhiên xứ sở phải là cõi Thiên. Tuy nhiên, riêng đối với chư Quỷ thần thiếu uy đức thì xứ sở của quỷ thần có hai nơi gọi là chánh trụ và biên trụ: Theo kinh Chánh Pháp Niệm thì:
- Chánh trụ là xứ sở riêng của loài quỷ nghiệp nặng, thuộc về thế giới ngạ quỷ, nằm trong thành Diêm La, nơi ở chánh thức của vô số ngạ quỷ do Diêm La Vương thống lãnh.
- Biên trụ là xứ sở của các quỷ thần nghiệp nhẹ hoặc có phước nghiệp, thuộc về hạng ở lẫn lộn trong loài người. Biên trụ là những chỗ như mé biển, triền núi, rừng bụi, đình miếu, hang hố, đồng trống, mồ mả, cho đến vườn nhà cùng các nơi thanh tịnh lẫn bất tịnh.
4. Hình thức tái sinh vào Quỷ Thần thú:
- loại thai sinh rất hiếm như Quỷ La Sát, Quỷ Tử Mẫu...
- loại hóa sinh gần như hầu hết (có thể coi như 99.99%)
B. Vài nhận định về các loại Quỷ Thần Biên Trụ tức loại sống lẫn lộn trong loài người:
1. Nguyên do hóa sinh của Quỷ Thần Biên Trụ:
Chư Quỷ thần nầy vốn đã có nhiều duyên nghiệp với loài người, nên bằng nguyện lực hay nghiệp lực đã hóa sinh về biên trụ sống lẫn lộn với người:
- chư Bồ Tát do nguyện lực hóa hiện về cõi Ta Bà để hộ trì Phật Pháp, phổ độ chúng sinh. Thí dụ như nhị vị Dạ Thần: Bà San Bà Diễn và Phổ Đức Tịnh Quang mà Ngài Thiện Tài đồng tử đã tầm cầu học đạo. (kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới)
- những người thương dân yêu nước, thậm chí quyến luyến một địa phương, một giòng sông, một ngọn núi... cái thâm tình đó đã thúc đẩy họ ở lại thế gian mà phò trợ. Đó là những vị thần bản địa, thần hoàng, thần núi, thần sông... (Kinh Địa Tạng Bồ Tát bản nguyên có nhắc đến danh sách rất dài danh tính các vị thần nầy. Ngài Hư Vân cũng kể có vị thần núi, thần cây đã thọ giới quy y với Ngài)
- những người có nghiệp thiện ác trung hòa không có cõi nào thu hút mãnh liệt, trong thời gian 49 ngày của thân trung ấm lập lờ chờ đợi quyết định cõi đầu thai bỗng bị tình quyến thuộc, lòng tham luyến mồ mả, mong cầu giỗ cúng... mà kẹt lại.
- trong số người chết thảm khốc như: bị ám sát, tự sát, tai nạn, chiến tranh, có người bị rơi vào trạng thái đau đớn, sợ hãi khủng khiếp dày đặc, khiến thần thức bị kẹt cứng vào thảm trạng đó không tạo cơ hội cho các chủng tử khác đang lưu trữ sâu trong tàng thức hiện hành được, và cứ thế mà họ chìm đắm trong trạng thái u mê đó mãi mãi. Có thể hiểu là họ đã hóa sinh thành Quỷ thần ngay lúc thảm tử, không trải qua giai đoạn thân trung ấm, nên không có giây phút thấy lại quãng thời quá khứ để chiêu cảm nghiệp lực nào khác.
2. Tương quan giữa Phật tử và quỷ thần:
- Phật tử chân chính đã quy y Phật thì tuyệt đối không quy y Thiên Thần Quỷ Vật, dù là bậc Thiên Thần đầy phước báu. (Lời phát nguyện khi thọ Tam quy)
- Nếu chưa là Phật tử cũng nên ý thức rằng Thiên Thần cũng là chúng sinh trong lục đạo, khi hưởng hết phước báu lại tiếp tục quay cuồng trong sáu nẻo luân hồi. Vua Trời Phạm Thiên, Tứ Đại Thiên Vương... cũng quy y Phật và trở thành những bậc hộ pháp đắc lực, thường gia hộ những Phật tử tu hành chân chính.
1. Nguyên do hóa sinh của Quỷ Thần Biên Trụ:
Chư Quỷ thần nầy vốn đã có nhiều duyên nghiệp với loài người, nên bằng nguyện lực hay nghiệp lực đã hóa sinh về biên trụ sống lẫn lộn với người:
- chư Bồ Tát do nguyện lực hóa hiện về cõi Ta Bà để hộ trì Phật Pháp, phổ độ chúng sinh. Thí dụ như nhị vị Dạ Thần: Bà San Bà Diễn và Phổ Đức Tịnh Quang mà Ngài Thiện Tài đồng tử đã tầm cầu học đạo. (kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới)
- những người thương dân yêu nước, thậm chí quyến luyến một địa phương, một giòng sông, một ngọn núi... cái thâm tình đó đã thúc đẩy họ ở lại thế gian mà phò trợ. Đó là những vị thần bản địa, thần hoàng, thần núi, thần sông... (Kinh Địa Tạng Bồ Tát bản nguyên có nhắc đến danh sách rất dài danh tính các vị thần nầy. Ngài Hư Vân cũng kể có vị thần núi, thần cây đã thọ giới quy y với Ngài)
- những người có nghiệp thiện ác trung hòa không có cõi nào thu hút mãnh liệt, trong thời gian 49 ngày của thân trung ấm lập lờ chờ đợi quyết định cõi đầu thai bỗng bị tình quyến thuộc, lòng tham luyến mồ mả, mong cầu giỗ cúng... mà kẹt lại.
- trong số người chết thảm khốc như: bị ám sát, tự sát, tai nạn, chiến tranh, có người bị rơi vào trạng thái đau đớn, sợ hãi khủng khiếp dày đặc, khiến thần thức bị kẹt cứng vào thảm trạng đó không tạo cơ hội cho các chủng tử khác đang lưu trữ sâu trong tàng thức hiện hành được, và cứ thế mà họ chìm đắm trong trạng thái u mê đó mãi mãi. Có thể hiểu là họ đã hóa sinh thành Quỷ thần ngay lúc thảm tử, không trải qua giai đoạn thân trung ấm, nên không có giây phút thấy lại quãng thời quá khứ để chiêu cảm nghiệp lực nào khác.
2. Tương quan giữa Phật tử và quỷ thần:
- Phật tử chân chính đã quy y Phật thì tuyệt đối không quy y Thiên Thần Quỷ Vật, dù là bậc Thiên Thần đầy phước báu. (Lời phát nguyện khi thọ Tam quy)
- Nếu chưa là Phật tử cũng nên ý thức rằng Thiên Thần cũng là chúng sinh trong lục đạo, khi hưởng hết phước báu lại tiếp tục quay cuồng trong sáu nẻo luân hồi. Vua Trời Phạm Thiên, Tứ Đại Thiên Vương... cũng quy y Phật và trở thành những bậc hộ pháp đắc lực, thường gia hộ những Phật tử tu hành chân chính.
Do đó, chẳng những ta phải từ bỏ tệ trạng sùng bái quỷ thần, mà dứt khoát không bao giờ cầu cạnh họ ban cho ân huệ hay quyền lợi gì cả.
Khi đã nhận được quyền lợi của ai thì phải thiếu nợ, để rồi cuối cùng phải trả nợ cả vốn lẫn lời, mà không phải trong một kiếp.
Đã dây dưa với họ thì khó mà vuột thoát. (H.T. Thiện Tâm có kể đến trường hợp một tín nữ cha ông theo phái Ngũ Hành của Quỷ thần, riêng cô hết lòng muốn tu theo Phật giáo nhưng cuối cùng cũng bị lôi trở lại với họ. Xem NPTY, chương 7)
3. Thái độ nên có của người Phật tử đối với Quỷ Thần:
- Kính trọng: Là Phật tử ta nên tỏ lòng kính trọng chư Thiện Thần uy đức thường ủng hộ thế gian, ngay như hạng Quỷ thần thấp kém đói khổ cũng nên tỏ lòng từ bi lân mẫn thương yêu họ.
- nhưng thận trọng: Ta cũng nên thận trọng đối với chư Quỷ thần, nếu tự hào là Phật tử mà có thái độ khinh bạc, không may gặp loại Quỷ thần có uy lực nóng tánh cố chấp thì có thể bị trừng phạt.
- và không nể sợ: Chư cổ đức thường dạy “đức trọng quỷ thần kinh”, người Phật tử đức độ luôn luôn được chư Quỷ thần nể trọng. Ta không gây sự với Quỷ thần thì Quỷ thần chẳng đụng chạm đến ta.
4. Những điều cần lưu ý trong việc cứu độ thân nhân bạc phước lạc vào cõi Quỷ thần:
- Quỷ thần từ cõi người hóa sinh nên vẫn giữ nguyên ký ức kiếp người cũ, tình cảm hay thù hận vẫn còn ấp ủ trong tâm, do đó họ rất mong mỏi được thân nhân nhớ tưởng và cứu giúp họ.
3. Thái độ nên có của người Phật tử đối với Quỷ Thần:
- Kính trọng: Là Phật tử ta nên tỏ lòng kính trọng chư Thiện Thần uy đức thường ủng hộ thế gian, ngay như hạng Quỷ thần thấp kém đói khổ cũng nên tỏ lòng từ bi lân mẫn thương yêu họ.
- nhưng thận trọng: Ta cũng nên thận trọng đối với chư Quỷ thần, nếu tự hào là Phật tử mà có thái độ khinh bạc, không may gặp loại Quỷ thần có uy lực nóng tánh cố chấp thì có thể bị trừng phạt.
- và không nể sợ: Chư cổ đức thường dạy “đức trọng quỷ thần kinh”, người Phật tử đức độ luôn luôn được chư Quỷ thần nể trọng. Ta không gây sự với Quỷ thần thì Quỷ thần chẳng đụng chạm đến ta.
4. Những điều cần lưu ý trong việc cứu độ thân nhân bạc phước lạc vào cõi Quỷ thần:
- Quỷ thần từ cõi người hóa sinh nên vẫn giữ nguyên ký ức kiếp người cũ, tình cảm hay thù hận vẫn còn ấp ủ trong tâm, do đó họ rất mong mỏi được thân nhân nhớ tưởng và cứu giúp họ.
Nói chung là phần lớn quen cách sống của kiếp người, luôn luôn tưởng mình còn thân xác thịt nên thường bị ám ảnh bởi cái khổ đói lạnh. Do đó, nếu được khai thị nhắc nhở cho họ ý thức rằng đói lạnh là do tâm tưởng không thực có thì nỗi khổ bức bách nầy sẽ biến mất, họ có thể nhận được phần nào an lạc.
- Quỷ thần hạng kém uy phước hóa sanh về biên địa, nói chung, dù sao cũng xếp vào hạng nghiệp lưng chừng hay nghiệp nhẹ. Do đó, ngay như những cô hồn đói khổ vất vưởng nếu được khai thị, được quy y, thậm chí chỉ cần nghe tụng nửa câu kệ trong kinh Hoa Nghiêm thì vẫn có thể phát tâm lành tu tập mà chuyển nghiệp.
- Chư quỷ thần có uy phước trung bình hộ trì dân gian như thần bản địa, thần núi, thần sông... khi nghe Phật Pháp rất hoan hỷ nên thường hay phù hộ kẻ tu hành chân chính, có vị còn hiện hình xin thọ giới quy y hoặc thọ pháp với chư đạo đức tăng.
- Quỷ thần hạng kém uy phước hóa sanh về biên địa, nói chung, dù sao cũng xếp vào hạng nghiệp lưng chừng hay nghiệp nhẹ. Do đó, ngay như những cô hồn đói khổ vất vưởng nếu được khai thị, được quy y, thậm chí chỉ cần nghe tụng nửa câu kệ trong kinh Hoa Nghiêm thì vẫn có thể phát tâm lành tu tập mà chuyển nghiệp.
- Chư quỷ thần có uy phước trung bình hộ trì dân gian như thần bản địa, thần núi, thần sông... khi nghe Phật Pháp rất hoan hỷ nên thường hay phù hộ kẻ tu hành chân chính, có vị còn hiện hình xin thọ giới quy y hoặc thọ pháp với chư đạo đức tăng.
Trong “Cảnh đức truyền đăng lục” có kể chuyện thiền sư Nguyên Khuê truyền giới cho thần núi Ngũ Nhạc, trong “Bá Trượng ngữ lục” cũng ghi lại câu chuyện của một ông lão, vốn là tỳ kheo thời Phật quá khứ, vì dạy pháp sai lầm nên bị đọa thành chồn tinh (súc thần) đã 500 kiếp, nhờ được thiền sư Bá Trượng thuyết pháp giải đáp khối nghi mà đại ngộ và được giải thoát kiếp chồn.
Theo: thuvienhoasen.org
Giải mã bí mật hình dáng của linh hồn
Các hiện tượng thông linh như ma ám, lên đồng, gọi hồn, luân hồi… và đặc biệt hơn là các trường hợp cận tử, hay phương pháp thực hành hành tâm linh như thiền, yoga… đã ghi nhận rằng, có sự tồn tại điểm trung chuyển linh hồn sau cái chết trong khi chờ đợi kiếp luân hồi. Vì vậy, “cõi âm” – cái tên gọi tồn tại xưa nay và ám ảnh con người từ thế hệ này sang thế hệ khác hiễn nhiên có tồn tại. Và linh hồn khi chu du bên kia cõi vô hình họ khoác lên bên ngoài hình dạng ra sao, hay vẫn là khuôn mặt cũ tô điểm bằng đường nét vô minh?
Năm nguyên tố và ba tính chất (Gunas) của sự sống
Các trường phái Yoga xem tất cả chúng sinh hiện hữu trong thế giới này được tạo thành bởi năm-nguyên-tố chính đó là: Đất (Earth), Nước (Water), Lửa (Fire), Khí (Air), Chất-dĩ-thái (Ether). Trong quá trình hiện hữu, tùy theo giai đoạn và kiếp sống của mỗi chúng sinh (người, thú, cây cỏ, đất đá…) mà năm-nguyên-tố lại tạo ra ba-tính-chất của ý chí hay chính là những rung động tin thần trong vũ trụ: Tính-trung (Satva), Tính-động (Raja), Tính-tịnh (Tama).
![]() |
| Năm-nguyên-tố và Ba-tính-chất của sự sống |
Tính-tịnh không có nghĩa là yên lặng, mà có nghĩa là sự rung động có liên quan đến năng lượng xấu như Tà-khí, Âm-khí, Năng-lượng-đen…những dòng khí này làm sức khỏe suy nhược, thần kinh yếu ớt… Ví dụ như động vật chết, thịt thối, cá khô…
Tính-động là những rung động làm kích thích thần kinh gây ra các triệu chứng như đứng ngồi không yên (trạo cử), buồn ngủ (trạo cử), kích dục… Nó là các thực phẩm như rượu, hành, tỏi…
Tính-trung là những rung động có lợi cho sức khỏe, tinh thần. Các rung động này làm con người hỉ lạc, từ bi, dũng cảm…Các thực phẩm như trái cây, khoai, đậu…thuộc loại này.
![]() |
| Biểu đồ rung động của Ba-tính-chất |
Từ năm-nguyên-tố, ba-tính-chất và tinh thần hợp lại tạo thành bốn thể cơ bản của con người trong đời sống vũ trụ.
Bốn thể cơ bản của con người
Qua kinh sách Veda và phương pháp thực hành yoga, các vị Đạo sư đã chỉ ra con người có bốn thể cơ bản như sau:
* Thể-vật-lý: Bao gồm 2 thể khác là Thể-xác (Sthula Sharira) và Thể-phách (Linga Sharira).
* Thể-vía hay Thể-dục-vọng
* Thể-trí (A-lại-da-thức)
* Thể-thượng-trí (Đại Ngã/Atma)
Trong đó Thể-phách gắn liền với Thể-xác và tồn tại song song với nhau, khi cái chết xảy ra, Thể-xác phân hủy thì Thể-phách cũng tan rã theo. Thể-phách đóng vai trò là đường dẫn các Kinh mạch vi tế và là nơi tồn tại các trung tâm Luân xa, hay huyệt đạo.
Ba thể còn lại có hình dạng một đốm sáng hình cầu, được bao bọc theo thứ tự từ trong ra ngoài là Đại-ngã, Thể -trí, Thể-vía. Ba thể này được cấu tạo bởi tinh chất được Yoga gọi là Jiva (năng lượng của ý chí).
Trong tiến trình của một cái chết, ban đầu các tinh lực Jiva được thu gom và cấu tạo lại theo thứ tự nhẹ ở bên trong nặng ở bên ngoài. Kế đến, linh hồn bị hút ra khỏi thân xác bởi một năng lượng bí ẩn qua Luân xa số 7 trên đỉnh đầu, đây là thời điểm cuối cùng linh hồn ở bên trong thể xác và khi trình tự này chấm dứt, nó sẽ trở thành một thành viên cũa cõi âm.
Do được cấu tạo bởi những tinh chất và các rung động vật chất khác nhau, mỗi thể của con người sẽ có những rung động phù hợp với thể đó, các rung động này hợp lại tạo ra một con người có tính cách không ai giống ai.
1. Thể xác
Thể xác phát triển khi con người ở giai đoạn từ 1-7 tuổi, trong bảy năm đầu thể vật lý (thể xác) một mình hình thành và phát triển, các thể khác còn đang ở dạng mầm. Lúc này con người giống như một con vật, không có trí tuệ, xúc cảm hay ham muốn.
2. Thể phách
Thể xác phát triển khi con người ở giai đoạn từ 7-14 tuổi, đây là giai đoạn trưởng thành về xúc cảm của cá nhân, và dục tính phát triển. Đôi khi một số người bị mắc kẹt và trì trệ trong giai đoạn này, họ sẽ không phát triển khả năng xúc cảm, dục tính…
Thể phách có đặc tính là sợ hãi, căm ghét, giận dữ và bạo hành. Hoặc ngược lại là tình yêu, từ bi, dũng cảm, thân thiện.
3. Thể vía
Thể-vía phát triển khi con người ở giai đoạn từ 14-21 tuổi, trong thời kỳ này con người có khả năng lập luận, tư duy và trí tuệ được nâng cao. Nó có đặc tính là hoài nghi và suy nghĩ, hay ngược lại là tin cậy và tĩnh lặng (vivek).
![]() |
| Linh hồn và cửa sổ tâm thức |
4. Thể trí
Thể trí là nơi lưu trữ Nghiệp Quả. Phẩm chất tự nhiên của Thể-trí là tưởng tượng và mơ. Nếu tưởng tượng được phát triển đầy đủ nó sẽ trở thành quyết tâm và ý chí.
5. Thể thượng trí
Thể thượng trí chính là tư duy bất nhị. Nó đã loại bỏ hẳn trạng thái vô ý thức, nghĩa là người này không ngủ, chỉ có xác thân anh ta ngủ, nhưng mọi diễn biến của anh ta hoàn toàn tỉnh giác.
Nạn nạo phá thai dưới góc nhìn Phật giáo
Vấn đề một bộ phận không nhỏ nam nữ yêu đương và có quan hệ trước hôn nhân, hiện không còn xa lạ với mọi người trong xã hội ngày nay, nhất là với giới trẻ. Theo các thống kê cho biết, số lượng các ca nạo phá thai ngày càng gia tăng, nghiêm trọng hơn là có không ít ca ở tuổi vị thành niên đã để lại nhiều hậu quả khôn lường về sức khỏe, tâm lý, học tập… cho người nạo phá thai.
Quan điểm của Phật giáo về vấn đề nạo phá thai, trước hết, đạo Phật là đạo từ bi, luôn tôn trọng sự sống và bảo vệ sinh mạng của mọi loài. Đạo Phật không phản đối các biện pháp hạn chế sinh đẻ bằng cách ngừa thai nhưng không ủng hộ việc phá thai. Bởi lẽ bào thai là một mầm sống, là sinh mạng, do đó cần được bảo vệ. Phật giáo quan niệm sự sống hay sinh mạng có mặt khi mới bắt đầu thụ thai.
Đức Dalai Lama, khi trả lời về vấn đề này cho các nhà khoa học phương Tây đã khẳng định:“Phật giáo quan niệm rằng ý thức xâm nhập vào sinh vật ngay từ phút giây đầu tiên của sự thụ thai, bởi lẽ đó mà phôi bào vẫn được coi như là một sinh vật. Cho nên chúng tôi xem hành động phá thai cũng giống như việc cướp đi sự sống của một con người” (Beyond Dogma, HH the Dalai Lama. Rupa & Co., 1996. tr.11).
Theo giáo lý đạo Phật, hành vi phạm giới sát sanh phải hội đủ năm điều kiện, đó là: Một chúng sanh/ Ý thức hay biết đó là một chúng sanh/ Có ý định giết hại/ Tìm mọi cách để giết/ Kết quả là chúng sanh ấy bị chết. Cứ theo những điều kiện trên thì một bà mẹ (Phật tử) đi phá thai là phạm giới, mắc tội lỗi rất lớn.
Quan niệm của đạo Phật về sát sinh
Theo giáo lý của đức Phật, để cấu thành nên một hành động sát sinh, phải có sự hiện diện của 5 điều kiện sau:
- Đối tượng bị giết phải là một chúng sinh.
- Người sát sinh phải biết hay phải nhận thức được rằng đối tượng bị giết là một chúng sinh.
- Người sát sinh có tác ý giết chúng sinh đó.
- Người sát sinh phải có một cố gắng/nỗ lực giết.
- Chúng sinh bị giết phải là kết quả của những điều kiện trên.
Ở đây, đơn cử một thí dụ về sự nạo phá thai đã cấu thành nên một hành động giết như thế nào:
- Khi thai nhi đã tượng hình, một chúng sinh đã được tạo ra. Điều này thỏa mãn điều kiện thứ nhất. Mặc dù Phật tử tin rằng, chúng sinh sống trôi lăn trong vòng sinh tử, và tái sinh, nhưng họ coi sát-na của tưởng là sự bắt đầu của đời sống của một con người cụ thể.
- Sau ít tuần, thai phụ trở nên nhận thức được sự hiện hữu của thai nhi. Sự kiện này đáp ứng được điều kiện thứ 2.
- Nếu thai phụ quyết định muốn nạo phá thai nhi ấy, thì quyết định muốn ấy chính là có tác ý giết. Đây là điều kiện thứ 3.
- Khi thai phụ tìm kiếm cách nạo phá thai, thì thai phụ đã tạo ra một cố gắng/nỗ lực giết, tức đã rơi vào điều kiện thứ 4.
- Cuối cùng, thai nhi bị giết chết vì hành động nạo phá thai ấy. Đây thỏa mãn điều kiện thứ 5.
Vì thế, nạo phá thai là phạm vào giới thứ nhất của đạo Phật – cấm sát sinh, và sự nạo phá thai này tương đương với việc giết một chúng sinh.
Sống quân bình
Các Phật tử đối diện với một khó khăn, ở đó sự phá thai cần đến y học can thiệp để cứu lấy sinh mệnhh của thai phụ. Vì vậy, trong trường hợp này, chắc chắn sẽ phải có một sinh mệnh bị hủy diệt dù muốn hay không muốn nạo phá thai.
Đối với những trường hợp như thế, khía cạnh đạo đức của nạo phá thai sẽ dựa trên những tác ý của từng trường hợp đang tiến hành.
Nếu quyết định nạo phá thai trong những trường hợp ấy bị mất đi lòng từ, và sau khi đã suy nghĩ chín chắn, cẩn thận, thì dù hành động nạo phá thai có thể là bất thiện, nhưng việc làm gây tổn hại về phương diện đạo đức này sẽ được giảm thiểu đến mức thấp nhất vì đã có sự tác ý thiện xen vào.
Phá thai vì lợi ích của thai nhi
Có những trường hợp không nạo phá thai, dẫn đến việc sinh con bằng những điều kiện y học mà khiến cho thai nhi đau khổ.
Trong trường hợp này, tư tưởng của Phật giáo truyền thống trở nên bất cập. Các Phật tử đang tranh luận về trường hợp này như sau:
Nếu thai nhi đã gặp phải trở ngại quá lớn mà nó phải chịu nhiều khổ đau, thì nạo phá thai khả dĩ chấp nhận được.
Đức Dalai Lama nói:
“Dĩ nhiên, theo quan điểm của Phật tử, phá thai là một hành động sát sinh và tiêu cực nói chung. Thế nhưng, nó cũng dựa vào từng trường hợp.
Nếu thai nhi không sinh sẽ bị chậm phát triển, hoặc nếu sự sinh nở sẽ sinh ra những vấn đề nghiêm trọng cho cha mẹ, thì những trường hợp này có thể là ngoại lệ. Tôi nghĩ, sự nạo phá thai được chấp nhận hay không chấp nhận tùy thuộc vào mỗi trường hợp”. (Dalai Lama, Thời báo New York, 28/11/1993)
Trách nhiệm cá nhân
Các Phật tử nghĩ rằng, họ phải tự chịu trách hoàn toàn về những gì mà họ đã làm và về những hậu quả mà nó đưa tới cho họ.
Vì vậy, quyết định phá thai là một quyết định có tính cách cá nhân rất cao, và là một quyết định vốn đòi hỏi sự xem xét hết sức cẩn thận, đầy tình người về các vấn đề vốn liên quan đến đạo đức, và chấp nhận gánh lấy bất cứ gánh nặng hậu quả nào mà nó mang đến...
Những hậu quả có tính đạo đức của quyết định cũng sẽ dựa vào động cơ và tác ý nằm sau một quyết định, cũng như vào mức độ lưu tâm đến hậu quả mà nó mang lại.
Một người sau khi phá thai xong, bị đau khổ, lương tâm dằn vặt và mong muốn sám hối là điều dễ hiểu. Dẫu sao thì sự phát tâm sám hối của bạn ấy vẫn là điều tốt, còn hơn là tìm mọi cách để biện minh cho hành động của mình. Sám hối theo Phật giáo là ăn năn với lỗi lầm đã tạo trong quá khứ và nguyện không tái phạm lỗi ấy ở tương lai. Sai lầm sống buông thả theo dục vọng khi chưa cưới hỏi hay không sử dụng các biện pháp ngừa thai đã khiến bạn ấy chịu nhiều khổ đau. Và giờ đây bạn ấy đã ăn năn, hối hận thật nhiều về sự nông nổi, bất cẩn và lối sống buông thả của mình. Sau khi đã ăn năn, quan trọng hơn là nguyện không tái phạm lại việc ấy. Đó là cách sám hối thiết thực nhất.
Đạo lý của dân tộc Việt là cố gắng giữ gìn sự trinh nguyên cho đến ngày cưới. Tuy nhiên, giới trẻ ngày nay phần lớn có xu hướng “hiện đại” và “thoáng” hơn trong tình yêu thì điều cực kỳ quan trọng là cần phải tuân thủ các biện pháp an toàn. Nếu được giáo dục tốt về giới tính, tiền hôn nhân và luôn ý thức về an toàn tình dục nói chung thì chắc chắn hậu quả của việc nạo phá thai sẽ được giảm thiểu.
Chúng ta đều biết phá thai là giải pháp bất đắc dĩ, để lại hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe, tâm lý và hạnh phúc gia đình về sau. Không ít những trường hợp nạo phá thai đã dẫn đến tử vong, vô sinh; nhiều thiếu nữ sau khi phá thai đã tự tử và nhiều phụ nữ luôn ray rứt, bị trầm cảm, ám ảnh về chuyện phá thai đến suốt đời. Chúng ta cần tiết chế dục vọng, nhất là ý thức rất rõ về nhân quả để đề phòng, ngăn ngừa mọi tình huống xấu khi đang còn là nguyên nhân, trước khi xảy ra hậu quả. Nói cách khác, đối với những người đang yêu thì quan trọng là” ngừa bệnh hơn chữa bệnh”, do đó thực tập Chánh Niệm rất quan trọng trong mọi hành vi của cuộc sống hàng ngày. Chánh niệm là có ý thức về việc mình làm trong giây phút hiện tại, đồng thời thấy được nguyên nhân và hậu quả của hành động đó.
Theo giacngo.vn
Chụp ảnh người âm - Vì sao thân trung ấm phát sáng?
Những thông tin trên mạng cũng như trên báo chí về việc chụp được ảnh người âm của Trung Tâm nghiên cứu Tiềm năng Con người và các nhà ngoại cảm (NNC) đã gây sự chú ý của nhiều người trong thời gian gần đây.
![]() |
| Ảnh chụp được linh hồn của người mới chết đuối tại bãi biển |
Hình ảnh những vòng tròn sáng xuất hiện trong các bức ảnh chụp mà mắt thường không nhìn thấy cùng với việc NNC Nguyễn Ngọc Hoài chụp lại được ảnh người âm thông qua sự chủ động gọi mời hiện lên trên ĐTDĐ đang là một thành tựu, “một cầu nối giữa Khoa học thực nghiệm và Khoa học tâm linh nó đã chứng minh rằng linh hồn cũng là một dạng đặc biệt của vật chất” – ông Nguyễn Phúc Giác Hải – Chủ nhiệm bộ môn Thông tin khẳng định.
Với năng lực nghe, nhìn, nói chuyện với người cõi âm, các NNC đều công nhận những vòng tròn sáng đã chụp được chính là các vong linh của những người đã khuất. Nhiều nhà nghiên cứu khoa học Việt Nam cũng như trên thế giới cũng công nhận điều đó. Trước đây, tôi đã có hai bài viết “Người cõi âm là thân trung ấm” giải thích: Vì sao thân trung ấm lại có hình dáng, khuôn mặt và tính cách giống như người mới khuất.
Trong thành tựu mới của kỹ thuật công nghệ hiện nay một vấn đề mới đang được đặt ra: Vì sao những người cõi âm lại hiện hình bằng những vòng tròn sáng? Vì sao những vòng tròn sáng đó lại có độ đậm nhạt, mầu sắc khác nhau như: màu vàng, màu xanh, mầu xám đục…hiện nay vẫn chưa có lời giải thích thuyết phục.
Như một lời đã hẹn trước đây, tự thấy nhân duyên đã đầy đủ, tôi xin được giải thích các hiện tượng này thông qua các Kinh điển Phật giáo. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật !
Chụp được ảnh người âm
Trong Tạp chí Gia đình đã có một bài viết về việc chụp ảnh được người âm thông quan việc gọi mời vong hiện lên ĐTDĐ. Nội dung của bài viết như sau: Đầu tháng 2 năm 2010, chúng tôi nhận được thông tin nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài đã chụp được bức ảnh của một linh hồn liệt sĩ mới được quy tập từ nước bạn Lào.
Ngày 27/1/2010, sau hơn một năm tìm kiếm và hàng tuần di chuyển nơi rừng sâu, núi thẳm ở nước bạn Lào, đội quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Bộ tư lệnh Quân khu 4 đã đưa được 118 bộ bộ hài cốt liệt sĩ Việt Nam trở về với đất mẹ. Trong chuyến đi đó, nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài cũng đã có mặt cùng với gia đình anh Lương Đoàn Mạnh, con trai của liệt sĩ Lương Xuân Tách, liệt sĩ duy nhất có gia đình nhận về trong đợt quy tập này. Khi cùng với gia đình anh Mạnh đưa liệt sĩ Lương Xuân Tách về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Quảng Ninh, nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài đã đề nghị anh Mạnh gọi cho một người đàn ông tên là Quân, nhà ở Mạo Khê, người có khả năng gọi được linh hồn người đã khuất hiện hình lên chiếc điện thoại cầm tay của anh ta để thân nhân chụp lấy ảnh người quá cố, bởi gia đình cũng không có ảnh để thờ.
![]() |
| Vòng tròn sáng - hay các linh hồn hiện hữu?? |
Một phần do trước đó, qua một gia đình liệt sĩ khác, nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài đã biết đến một tấm hình liệt sĩ khác do người đàn ông cung cấp nhưng chưa rõ thực hư thế nào, một phần cũng là một nhà ngoại cảm, Nguyễn Ngọc Hoài nuôi hi vọng tiếp cận với khả năng của người này, tìm hiểu và khám phá một sự bí ẩn khác của thế giới tâm linh. Nhà ngoại cảm và anh Quân lên kì đài thắp hương rồi đi xuống mộ liệt sĩ Lương Xuân Tách. Anh Quân lặp lại động tác như trước bàn thờ ở nhà song 10 phút, rồi 20 trôi qua mà không thấy gì. Hơn 20 người khi đó có mặt ở nghĩa trang, ai cũng hồi hộp. Phải tới hơn 40 phút sau, anh Quân lại đặt chiếc điện thoại di động đó xuống mặt trên của ngôi mộ và lầm rầm khấn xin thì bỗng nhiên màn hình điện thoại lóe sáng, chân dung liệt sĩ hiện lên. Tất cả những ai cầm máy ảnh trong tay đều liên tục bấm máy linh hồn liệt sĩ hiện lên không đầy một phút lại mất, màn hình điện thoại lại trở nên tối đen…
Khi chúng tôi đặt câu hỏi, đây có đúng là liệt sĩ Lương Xuân Tách trong tấm ảnh, Nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài cho biết thêm, khi liệt sĩ hi sinh, anh Mạnh còn nhỏ nên không nhớ rõ hình ảnh cha mình. Nhưng khi mang tấm hình về quê, mọi người trong họ hành đều xác nhận, người trong bức ảnh đúng là liệt sĩ Lương Xuân Tách. Ngoài bức ảnh chụp trên đây còn có một số ảnh khác chụp được khi người âm hiện lên ĐTDĐ của anh Quân. Thông tin mới nhất, qua anh Quân, chị Hoài đã chụp lại được ảnh 2 vong nữa: một người phụ nữ cổ, một em bé gái. Như vậy đã có 4 tấm ảnh vong mà chị Hoài thu thập được.
Trước đó, Đề tài nghiên cứu về khả năng chụp hình "người âm" đã được đưa vào chương trình nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng con người. Khoảng 1.000 tấm ảnh đưa về chụp hình "người âm" do ông Nguyễn Phúc Giác Hải, chủ nhiệm bộ môn nắm giữ. Các bức ảnh được thực hiện ở nhiều địa điểm trên đất nước: Đà Lạt, TP.HCM, chợ âm phủ Hà Nội, nghĩa trang Văn Điển, sông Tô Lịch, nhà tang lễ, nhà đề lao Trung ương. Phòng Cảnh sát Giao thông cũng cung cấp cho ông hệ thống các điểm đen giao thông trên địa bàn Hà Nội, tại những điểm này đều chụp được những bức ảnh có vòng tròn sáng. Cùng với đó là rất nhiều bức ảnh bạn bè, các nhà báo từng chụp được cũng gửi về.
Chụp ảnh ''người âm'': Ngẫu nhiên có vòng tròn sáng?
Theo ông Phúc Giác Hải, khi truy cập để tìm tài liệu trên thế giới, ông cũng đã bắt gặp rất nhiều trang web giới thiệu về những vòng tròn sáng như vậy. Họ gọi những vòng tròn này là orbs, có nghĩa là những vòng tròn. Để chứng minh rằng các "vòng tròn ánh sáng" là những linh hồn, chúng tôi đã đề nghị một số nhà ngoại cảm thử chụp ảnh “người âm”. Khi đó, khuôn hình chỉ có những vòng tròn ánh sáng. Và khi nhà ngoại cảm đề nghị các vong tránh ra, những tấm ảnh tiếp theo chỉ còn rất ít những vòng tròn.
Vì sao thân trung ấm là một vòng tròn phát sáng
Một trong những thành tựu về khoa học hiện nay mà con người đã đạt được đó là chế tạo ra máy móc hiện đại phát hiện sự phát sáng của cơ thể con người mà mắt thường không nhìn thấy được. Quầng sáng đó được gọi là vòng hào quang, có liên quan đến các trạng thái tâm lý và tình trạng sức khỏe của con người.
Thực chất vầng hào quang bao quanh cơ thể người là những biểu hiện trường sinh học của các cơ quan. Theo tiến sĩ khoa học Isakov (Liên Xô cũ), vầng hào quang hay vỏ trường sinh học có 3 lớp chủ yếu liên hệ chặt chẽ với nhau. Lớp đầu tiên gần cơ thể người nhất, có hình dạng tương tự cơ thể, giống như "lớp áo giáp" bọc ngoài. Ra xa dần, nó có hình dạng như quả trứng, xa hơn nữa thành hình tròn và tỏa rộng ra mãi vô tận.
- Phần hồn là phần năng lượng của ý thức, tư tưởng của một con người. Các nhà khoa học đã khám phá và khẳng định, ý thức tư tưởng tình cảm con người cũng là một thứ vật chất mang tính hạt và sóng do một loại hạt nguyên tử siêu nhẹ cấu tạo nên. Lớp này bền vững hơn cả và mang sắc độ từ màu vàng đến màu xanh da trời.
- Lớp thứ hai dễ thấy hơn, phản ánh trạng thái tình cảm buồn vui giận hờn của con người qua những màu sắc khác nhau của vầng hào quang.
- Lớp thứ ba liên hệ chặt chẽ với trạng thái sức khỏe. Đây là lớp trường sinh học mà các nhà y học năng lượng, các nhà khí công yoga, ngoại cảm thường quan sát để chẩn đoán bệnh và điều trị.
Nhờ các thiết bị kỹ thuật lượng tử siêu dẫn, hệ thống kính màu đặc biệt, mắt kính có chứa dung dịch Tritanlomin hoặc bằng khả năng thấu thị, người ta có thể thấy hình dáng, màu sắc và kích thước của các lớp vỏ hào quang này.
Trường sinh học hay còn gọi là hào quang là biểu hiện của tâm thức là ý thức tư tưởng, vui buồn, yêu thương giận hơn và sức khoẻ bệnh tật của con người.
Khi con người mất đi thì thể xác không còn, nhưng tâm thức vẫn còn nguyên vẹn. Cuốn Sự sống sau cái chết (Life after life) của Raymond A. Moody đã dẫn ra nhiều trường hợp những người đã trải qua trạng thái cận tử (Near Death Experiernce - NDE). "Tôi thoát ra khỏi thể xác của mình và tôi quan sát nó từ cự ly cách đó khoảng 10m, nhưng ở đó tôi vẫn có khả năng suy nghĩ giống như bình thường”. Các cuộc trò truyện của các NNC với thế giới người âm cũng chứng tỏ thân trung ấm không có thay đổi gì nhiều về tính cách, vì vậy mà trường sinh học vẫn tiếp tục tồn tại.
Như phân tích ở trên sau khi thân xác con người mất đi thì chỉ có vầng hào quang thứ ba (biểu hiện của sức khoẻ) con người mất đi còn hai vầng hào quang biểu hiện cho tư tưởng, trạng thái tình cảm của con người sẽ không mất vì tâm thức của con người vẫn tồn tại. Các nhà y học năng lượng chẩn đoán bệnh bằng chiều dầy của của vòng hào quang đã phân tích. Nếu chiều dày đạt 40-60 cm thì sức khỏe bình thường. Nếu thấp hơn 30 cm là mất cân bằng năng lượng nghiêm trọng. Nếu chỉ còn 10-15 cm thì ở tình trạng ngất, bất tỉnh. Nếu con người mất thân xác thì hào quang sẽ thu nhỏ rút vào thể vi tế.
Dựa vào những thành tựu khoa học hiện nay về công nghệ kỹ thuật chụp hình và sự phát hiện phân tích của các nhà khoa học đối với các vòng hào quang con người có thân xác, ta có thể khẳng định những vòng tròn sáng chính là vòng hào quang của các vong linh người đã mất. (!?) Cuốn Sự sống sau cái chết có đoạn, sau khi thoát chết và trở lại cuộc sống một số người đã kể rằng, họ đã biến thành một vòng tròn ánh sáng : "Khi tim tôi ngừng đập... tôi cảm thấy như mình là một quả bóng tròn hoặc một hình cầu nhỏ. Tôi không thể nào mô tả được nó".
Trước đây, chỉ có những người tu thiền định mở được ngũ nhãn mới có thể nhìn thấy được vầng hào quang xunh quanh con người, thấy được các cõi giới khác… Ngày nay với những thành tựu khoa học về công nghệ máy móc, con người đã có thể nhìn được vầng hào quang này thông qua những bức hình chụp. Không những thế người ta còn có thể nhìn thấy, nghe thấy thế giới người âm bằng những phương tiện kỹ thuật hiện đại.
Sự tồn tại của thế giới phi vật thể, ở đó có năng lượng tế vi. Chuyện các NNC nhìn thấy, nghe thấy và nói chuyện được với người âm không còn xa lạ đối với mọi người. Khi đã khẳng định sự hiện hữu, tồn tại của thế giới phi vật thể thì những giáo lý nhà Phật như : luân hồi, lục đạo, pháp giới, Tam thiên đại thiên thế giới…sẽ dần dần sáng tỏ và được chứng minh một cách thuyết phục.
Soi rọi từ trong các kinh điển Phật ta thấy, vầng hào quang phát sáng xung quanh các đức Phật, Bồ tát… thường được nói rất nhiều trong Tam tạng kinh Phật là biểu tượng về Trí tuệ và lòng Từ bi của các ngài. Để đi đến quả vị cao trong thiền định, người tu hành phải vào được Cửa không tức là vào chân tâm (Phật tính). Khi đạt được đến mức đó thì hào quang quanh cơ thể sẽ tự phát sáng rực rỡ mắt thường có thể nhìn thấy.
Trong cuốn Tử Thư (Bardo Thodon) có ghi : “Bốn luồng hào quang đại diện cho Phật đó là Phật trí hào quang trắng từ Phật Đại Nhật. Đại viên cảnh trí , Phật Bất Động hào quang màu xanh biếc. Bình đẳng tánh trí , Phật Bảo Sanh hào quang sắc vàng. Diệu quan sát trí, hào quang sắc đỏ”.
Trong nhiều trường hợp cận tử cái chết trở về, nhiều người đã kể lại rằng, họ thấy mình như rơi vào một đường hầm tối đen và cuối đường hần là ánh sáng chói loà. Thực tế ánh sáng mà người cận tử cái chết chứng thấy đó chính là chân tính hay còn gọi là pháp thân thường trụ….là đích mà các hành giả tu thiền hướng tới. “Giờ đây pháp thân đang chiếu sáng rực rỡ trước mắt ngươi, hãy nhận biết rõ. Giờ đây thức của ngươi đang trở về bản tính chân như, rỗng không vắng lặng, vô ngã, vô tướng, không màu sắc. Không âm thanh…Nó chính là thân bất hoại. Sắc và không không rời nhau trong dạng hào quang rực rỡ, vô sinh, vô tử. Đó cũng chính là Phật tính” (Bardo Thodon).
Theo Tử Thư (Tây Tạng) tất cả con người sau khi chết đều trở về chân tâm tức là vô ngã, vô tướng, không mầu sắc có hào quang rực rỡ như các vị Phật. Nhưng vì sao những hương linh (thân trung ấm) lại có vòng tròn sáng đậm nhạt, mầu sắc khác? Việc phân tích mầu sắc của các vòng tròn sáng sẽ làm sáng tỏ được rất nhiều vấn đề trong kinh điển Phật. Vì sao chúng ta phải tu thiền, vì sao chúng ta phải tái sinh theo nghiệp…?
Phần 2 – Vì sao các vòng tròn sáng có độ đậm nhạt và màu sắc khác nhau.
Nếu quan sát kỹ các vòng tròn sáng ta sẽ thấy sự khác nhau về độ đậm nhạt và về mầu sắc. Có vòng tròn thì sáng trắng, trong suốt. Có vòng tròn thì mờ mờ có hình dáng khuôn mặt người, có vòng tròn mầu xanh nước biển, có vòng tròn màu vàng, có vòng tròn mầu tím, máu xám khói… Theo cách giái thích của các NNC, sở dĩ có sự khác biệt đó là do linh hồn ở những cấp độ khác nhau. Từ mức các vong lang thang đến mức cao hơn. Các linh hồn lang thang đều ở gần mặt đất. Còn các vòng ánh sáng ở trên cao là những "thiên thần", có nghĩa là những linh hồn đã được nâng lên ở mức độ cao hơn.
Trước khi giải thích vần đề này, chúng ta đi sâu một chút về vầng hào quang xung quanh con người, khi thần thức còn sống trong thân xác. Theo một số tư liệu khoa học thì thực tế vầng hào quang xunh quanh con người không chỉ có 3 vòng mà có đến 6 vòng. Nhưng có 3 vòng chính, đặc trưng cho ý chí, tư tưởng, cảm xúc và tình trạng sức khoẻ. Phân tích mầu sắc 2 vầng hào quang thuộc về tâm thức con người ta sẽ thấy nó có những biểu hiện như sau :
- Vầng thứ nhất của hào quang sáng có màu đỏ đẹp biểu hiện ở những người cương quyết đấu tranh và quyền lực, màu đỏ đẹp và sáng chói biểu hiện ở những người vạm vỡ mạnh khỏe, ý chí mạnh mẽ.
- Vầng thứ hai của hào quang liên hệ đến các tình cảm hay cảm xúc. Màu vàng rực rỡ như mây thể hiện những tình cảm sâu đậm, lạc quan yêu đời . Những màu sắc tối hơn thể hiện những cảm xúc tiêu cực, bi quan chán nản. Màu xẫm thể hiện sự cáu ghét, ganh tỵ...
- Vầng thứ nhất của hào quang sáng có màu đỏ đẹp biểu hiện ở những người cương quyết đấu tranh và quyền lực, màu đỏ đẹp và sáng chói biểu hiện ở những người vạm vỡ mạnh khỏe, ý chí mạnh mẽ.
- Vầng thứ hai của hào quang liên hệ đến các tình cảm hay cảm xúc. Màu vàng rực rỡ như mây thể hiện những tình cảm sâu đậm, lạc quan yêu đời . Những màu sắc tối hơn thể hiện những cảm xúc tiêu cực, bi quan chán nản. Màu xẫm thể hiện sự cáu ghét, ganh tỵ...
Khi con người yêu thương, hào quang xuất hiện những sóng màu xanh dịu dàng. Nếu con người đố kỵ, ghen ghét hào quang có màu xanh lục tối. Hào quang của sự keo kiệt. bủn xỉn sẽ trở nên thô ráp và sắc nhọn.
Qua phân tích vầng hào quang của các nhà khoa học ta thấy, tư tưởng, trạng thái cảm xúc của con người chính là nguyên nhân tạo ra sắc màu và các biến động thay đổi của sắc hào quang. Khi con người chết đi, vầng hào quang của thần thức (thân trung ấm) cũng thay đổi và biến động như khi nó còn trong thân xác người. Những biến động của tư tưởng, cảm xúc mà cở sở của nó chính là sự chấp hữu của thân trung ấm sẽ đẩy thần thức về 6 nẻo đường tái sinh.
Đại đức Lạt ma Chogyam Trungpa Rinpoche khi phân tích cuốn Tử Thư (Tây Tạng) có viết: “Sau khi 4 yếu tố đất, nước, lửa gió đoạn diệt, thần thức có cảm giác trống rỗng hoặc thanh thản, đồng thời mất khả năng tập trung, tất cả bị cái không xâm chiếm. Sau đó là pháp thân thường trụ hiện ra, thật ra là lúc đạt đến chân tâm… Chính từ chân tâm không sinh không sinh diệt này nghiệp lực sẽ bắt đầu xuất hiện dẫn dắt thần thức đi vào đời sống mới. Nếu thần thức lưu trú trong chính niệm, nhất tâm trong thiền định thì pháp thân sẽ xuất hiện. Còn nếu thần thức bị năng lực nghiệp báo dẫn dắt, thần thức sẽ xa dần pháp thân thường trụ. Lúc đó một tâm niệm chấp hữu khởi lên, tuỳ theo mức độ chấp hữu, thần thức sẽ đi vào những cảnh giới khác nhau trong sáu cõi luân hồi. Vì vậy chính năng lực chấp hữu là động cơ thôi thúc thần thức đi vào lục đạo”.
Chính sự mong cầu mà thân trung ấm được hình thành. Chính sự chấp hữu mà thân trung ấm bị đẩy về các cảnh giới tương ứng với các tâm thức trong lục đạo. Nguồn gốc của sự chấp hữu chính là tham, sân, si. Một vọng niệm khởi lên tạo ra một sắc màu, nhiều vọng niệm khởi lên tạo ra vầng hào quang có nhiều sắc màu. Thần thức thiên về ý nghĩ nào, cảm xúc nào thì sắc màu hào quang sẽ thiên về sắc màu đó. Có khá nhiều vòng tròn sáng có sự pha tạp các màu sắc khác nhau, nhưng luôn có sắc màu chủ đạo.
Chính sắc màu này sẽ quy định thần thức sẽ tái sinh về cảnh giới nào. Vì sao như vậy ? Trong Tử thư Tây Tạng có ghi: “Sáu ánh sáng của sáu nẻo lục đạo bắt đầu xuất hiện, nếu ngươi thác sinh cõi nào thì ánh sáng của cõi đó sẽ chiếu sáng nhất. … Ngươi muốn hiểu về ánh sáng đó chăng? Cõi trời có ánh sáng mầu trắng, cõi atula có ánh sáng mầu đỏ, cõi người có ánh sáng màu xanh, cõi súc sinh có ánh sáng màu xanh lục, cõi ngạ quỷ có ánh sáng màu vàng, cõi địa ngục có ánh sáng màu khói xám. Đó là sáu loại ánh sáng. Trong lúc này thân người tự nhiên có ánh sáng của của cõi mà ngươi sắp thác sinh.”
Những luận điểm được ghi trong Luận Vãng Sinh (Tử Thư – Tây tạng) thật là chuẩn xác, thật là tuyệt vời và logic. Khi khoa học đã phát hiện ra được những sắc hào quang của thân trung ấm nó đã làm sáng tỏ ra được nhiều vấn đề. Vì sao thế giới luân hồi có nhiều cõi? Vì sao con người bị kéo vào các cảnh giới lục đạo. Do sắc hào quang sinh ra từ tư tưởng, cảm xúc của thân trung ấm đã tương thích với các sắc màu của lục đạo nên con người cứ phải tái sinh luân hồi.
Kinh điển Phật nói, Luân hồi là do nghiệp báo. Vào cảnh giới nào là do tự con người dẫn dắt mình vào chẳng thể có đấng thần linh nào tác động. Sáu màu của lục đạo: màu sáng trắng (trời), mầu đỏ (Atula), màu xanh biển (người), màu xanh lục (ngạ quỷ), màu vàng (ngạ quỷ), màu xám khói (địa ngục) là cảnh giới lôi kéo những thần thức có sắc màu tương hợp với nó.
Đi sâu hơn nữa, Đại đức Lạt ma Chogyam Trungpa Rinpoche sẽ diễn giải cho chúng ta thấy nghiệp cảm của các chúng sinh trong lục đạo: “Chính từ chân tâm không sinh không sinh diệt này nghiệp lực sẽ bắt đầu xuất hiện dẫn dắt thần thức đi vào đời sống mới…”
- Địa ngục là cảnh giới có mức độ chấp hữu lớn nhất. Khi thần thức khởi lên ý niệm căm ghét. Sự căm ghét làm thần thức muốn gây khổ cho ai đó, nhưng không có ai là đối tượng nên quay lại làm khổ chính mình. Vừa khởi tâm muốn đánh đập ai đó thì hành động đánh đập đã quay lại hành hạ chính thân mình.
- Ngạ quỷ là cảnh giới trong ý niệm khởi lên sự thèm khát và ganh tỵ. Luôn thèm khát muốn được nhiều hơn nữa. Từ đó dẫn đến cảm giác sự săn đuổi cảm giác thích thú về tâm trạng săn đuổi đó.
- Súc sinh là cảnh giới cảm giác sự thiếu vắng hỷ lạc và tâm thức hài ước. Có cảm giác hạnh phúc, đau khổ nhưng không hề biết cười. Thường nhắm mắt đi theo một quan điểm cực đoan nào đó không suy xét không thay đổi. Mỗi một điều lạ, mỗi một sự thay đổi là một tai hoạ và là nguyên nhân gây sự sợ hãi, hỗ loạn dữ dội.
- Người là cảnh giới của sự khát khao tìm tòi khám phá và hưởng thụ. Người mang dấu ấn của cả hai cõi súc sinh và ngạ quỷ nhưng có sự khôn ngoan, thường xuyên suy xét tìm tòi không ngừng nghỉ.
- Atula là cảnh giới có trình độ tri thức cao hơn khôn ngoan, nghi ngờ và luôn tìm cách thằng cuộc. Âm mưu xảo quyệt, khôn ngoan gian hùng chuyên toan tính những chuyện lớn lao liên quan đến toàn xã hội.
- Trời là cảnh giới của sự khởi niềm vui hỷ lạc và luôn muốn giữ niền vui đó trong trạng thái thiền định. Thích sâu lắng, an lạc… trong trạng thái tự ngã.
- Địa ngục là cảnh giới có mức độ chấp hữu lớn nhất. Khi thần thức khởi lên ý niệm căm ghét. Sự căm ghét làm thần thức muốn gây khổ cho ai đó, nhưng không có ai là đối tượng nên quay lại làm khổ chính mình. Vừa khởi tâm muốn đánh đập ai đó thì hành động đánh đập đã quay lại hành hạ chính thân mình.
- Ngạ quỷ là cảnh giới trong ý niệm khởi lên sự thèm khát và ganh tỵ. Luôn thèm khát muốn được nhiều hơn nữa. Từ đó dẫn đến cảm giác sự săn đuổi cảm giác thích thú về tâm trạng săn đuổi đó.
- Súc sinh là cảnh giới cảm giác sự thiếu vắng hỷ lạc và tâm thức hài ước. Có cảm giác hạnh phúc, đau khổ nhưng không hề biết cười. Thường nhắm mắt đi theo một quan điểm cực đoan nào đó không suy xét không thay đổi. Mỗi một điều lạ, mỗi một sự thay đổi là một tai hoạ và là nguyên nhân gây sự sợ hãi, hỗ loạn dữ dội.
- Người là cảnh giới của sự khát khao tìm tòi khám phá và hưởng thụ. Người mang dấu ấn của cả hai cõi súc sinh và ngạ quỷ nhưng có sự khôn ngoan, thường xuyên suy xét tìm tòi không ngừng nghỉ.
- Atula là cảnh giới có trình độ tri thức cao hơn khôn ngoan, nghi ngờ và luôn tìm cách thằng cuộc. Âm mưu xảo quyệt, khôn ngoan gian hùng chuyên toan tính những chuyện lớn lao liên quan đến toàn xã hội.
- Trời là cảnh giới của sự khởi niềm vui hỷ lạc và luôn muốn giữ niền vui đó trong trạng thái thiền định. Thích sâu lắng, an lạc… trong trạng thái tự ngã.
Tử Thư Tây Tạng cũng có ghi, hào quang có ánh sáng cực mạnh và rực rỡ là pháp giới của các vị chư Phật, Bồ tát. Còn ánh sáng yếu là của 6 cõi của lục đạo luân hồi. Khi con người còn mang nghiệp chướng, chưa tu thiền định thì dù có muốn nhập thân vào pháp giới của các vị Phật, Bồ tát cũng không thể vì sắc màu và cường độ của hào quang người phàm không tương thích với thề giới giải thoát. Hào quang của những bậc chân tu luôn sáng trắng và rực rỡ.
Những vòng tròn sáng mà chúng ta thầy được qua những bức hình cũng có khá nhiều vòng tròn sáng trắng. Nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều vòng tròn có ánh sáng mờ và có các màu sắc xanh, vàng nhạt, màu tím khói…Nhiều vòng tròn có khuôn mặt và hình dáng con người.
Thông thường, những người chết trẻ, chết vì tai nạn, những người còn bám chấp vào cuộc sống dương thế mạnh do năng lượng sóng vật chất của thần thức lớn nên thân trung ấm hiện hình rất rõ. Đôi khi mắt thường cũng nhìn thấy được. Khi sự chấp hữu quá lớn sắc sáng của các vòng tròn sáng sẽ yếu thường có màu xám khói đục. Vị hoá thân Lạt ma Lobsang Ramp cho rằng, chỉ khi nào thể phách tức là thân trung ấm tan rã thì con người mới có thể siêu thoát và tái sinh được.
Như vậy, qua những màu sắc của các vòng tròn sáng ta sẽ biết được vong linh nào nào sẽ sinh vào cảnh giới nào. Hai hình ảnh người âm chụp được trên ĐTDĐ của Liệt sĩ Lương Xuân Tách và Liệt sĩ Lê Xuân Hạc cũng có những sắc màu chủ đạo không giống nhau. Điều đó cũng có nghĩa là màu sắc vầng hào quang của hai thần thức cũng đã được máy chụp ghi lại được chứ không phải màu nền của ĐTDĐ.
Trong cuốn Tử Thư Tây Tạng ghi, khi con người mất thân, tâm thức sẽ sáng suốt gấp 9 lần so với thông thường. Con người lưu lạc trong thề giới âm bằng tâm tưởng. Bất kỳ ý niệm nào khởi lên nó sẽ tức khắc thành hiện thực.
Khi buồn vui, cáu giận… hay nghĩ đến đâu, đến ai thì lập tức ta sẽ ở ngay đó. Nếu con người cứ trôi theo những suy nghĩ, cảm xúc của mình thì nghiệp thức sẽ dẫn dắt chúng ta về các cửa tái sinh theo quy luật nhân quả. 10 pháp giới sẽ mở ra khi con người mất thân xác, bước vào thân trung ấm. Tâm thức tương ứng với cảnh giới nào thì sẽ thác sinh về cõi giới đó. Khi đã hiểu rõ được sự vận hành của Thân trung ấm, để không bị lôi vào 3 đường ác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh), vượt sáu nẻo luân hồi hay khép cánh cửa tái sinh, con người không có phương cách nào khác là phải tự chuyển hoá tâm thức của mình.
Để chuyển đổi được tâm, người phàm ngoài những việc làm điều thiện, tránh điều ác cần phải tu thiền định và trì tụng Kinh, Chú. Chỉ có qua thiền định con người mới kiểm soát được tư tưởng, cảm xúc và trừ diệt được các vọng tưởng. Đạo Phật là đạo của Tâm, dù Pháp Phật có đến 84 ngàn phương tiện thì mục đích cuối cùng chính là chuyển hoá tâm. Tâm chấp hữu là tâm phân biệt (chấp ngã, chấp tướng, chấp pháp…) là tâm phiền não. Khi tâm khởi niệm là tác tạo nhân. Người thiền định đạt đến sự rỗng lặng, như như bất động khi rời bỏ thân xác do không còn vọng niệm, không có sự mong cầu nên không hình thành thân trung ấm.
Do Thân trung ấm không hiện hữu, không có sự ngăn ngại nên siêu thoát nhập cảnh giới mới rất nhanh. Khi đã vào được cửa Không, nhập vào pháp thân thường trụ thì thì cánh cửa tái sinh sẽ khép lại. Không sanh không diệt. Khám phá ra thế giới thân trung ấm, chúng ta hiểu sâu được thêm về Tướng không trong Kinh Bát nhã Ba la mật đa ở hệ quy chiếu khác: “Xá Lợi Tử! Thị chư Pháp không tướng, bất sinh, bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức vô nhãn, nhĩ tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương vị, xúc, pháp: vô nhãn giới, nại chí vô ý thức giới, vô vô minh diệt, vô vô minh tận, nại chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ tập, diệt, đạo, vô trí diệt vô đắc, dĩ vô sở đắc cố”.
Vì sao, các vị Alahan, Bồ tát, chư Phật giải thoát được sinh tử, vì họ đã nhập vào được cảnh giới “Pháp thân thường trụ” không pháp, không tướng, không ngã. Vì không có thân nên tâm không ngăn ngại, không sợ hãi, xa rời mộng tưởng điên đảo, đạt được cứu cánh Niết bàn. Trên con đường tiến vào Cửa Không, trong thời kỳ mạt pháp nếu chỉ trông cậy vào sức lực bản thân con người là rất khó. Vì nghiệp chướng vô lượng kiếp sâu dầy, phải chụi nhiều tác động của các thế giới siêu hình khác…
Để có thêm sự hộ trì, gia hộ (tha lực) của các chư vị chư Phật, Bồ tát, con người cần phải trì tụng Kinh, Chú Phật. Đối với người hành thiền, khi 6 cửa giác quan (xúc, nhãn, nhĩ…) đóng lại thì vọng tưởng từ quá khứ sẽ trỗi dậy. Trì tụng kinh Phật không chỉ làm cho tâm bất loạn mà còn tiêu tan được nghiệp chướng, giúp trí tuệ tăng trưởng, không bị các thế giới ma đạo quấy nhiễu…
Càng đi sâu vào Phật đạo, chúng ta càng hiểu sâu sắc thêm về con người, về vũ trụ. Có lẽ sự vi diệu, thâm sâu của triết lý nhà Phật sẽ được chứng thực khi khoa học thực nghiệm tâm linh chứng minh được những điều mà pháp Phật đã nói là đúng.
Phật pháp vốn siêu vượt thời gian, siêu vượt các tôn giáo khác là vậy.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu ni Phật!
Linh hồn - Những điều bí ẩn
Bạn có tin ở linh hồn? Bạn không tin ở linh hồn? Thật khó trả lời, vì đó là một khái niệm mà chưa bao giờ con người thực sự làm chủ. Nhưng giải thích sự tồn tại và vận động của thế giới xung quanh và thậm chí là của chính bản thân mình là nhu cầu không bao giờ vơi cạn của con người. Vì thế, các nhà khoa học vẫn luôn nỗ lực tìm kiếm câu trả lời về linh hồn.
Từ một câu chuyện kỳ lạ tại Tây Tạng
Tại vùng đất huyền bí nhất trên thế giới, Tây Tạng cho đến ngày nay vẫn còn lưu truyền một sự kiện hết sức kỳ lạ về “Người cầu vồng”. Sự kiện xảy ra năm 1998 tại Kham, khu vực hẻo lánh phía đông Tây Tạng, sự biến mất kỳ lạ của vị Lạt ma Khenpo A-chos. Ông là một trong các vị Lạt ma có uy tín nhất trong vùng, thường xuyên thuyết giảng về đạo Phật dù Chính phủ Trung Quốc có những quy định rất khắt khe về việc này. Vào tuổi 80 vị Lạt ma vẫn hoàn toàn khoẻ mạnh. Một hôm, Lạt ma Khenpo A-chos lên nằm trên giường của mình, miệng lẩm bẩm câu thần chú Tây Tạng “Om mani padme hum” và qua đời. Ngay sau đó, cầu vồng xuất hiện trên căn phòng nhỏ của ông suốt cả ngày.
Những người học trò của Khenpo A-chos tổ chức lễ cầu kinh để linh hồn người thầy siêu thoát. Nhưng hiện tượng lạ thường xảy ra: da thịt của vị Lạt ma bắt đầu hồng hào trở lại. Dường như Khenpo A-chos đang từ từ tái sinh. Học trò của ông đi hỏi ý kiến một vị Lạt ma và được lời khuyên hãy bọc thi thể của thầy lại và tiếp tục cầu kinh. Họ làm đúng như lời chỉ dẫn. Một tuần sau, khi mở tấm áo bọc thi thể vị Lạt ma, người ta chỉ thấy vài sợi tóc còn sót lại trên gối, thi thể của Khenpo A-chos đã hoàn toàn biến mất. Từ đó người Tây Tạng gọi ông là “Người cầu vồng”.
![]() |
| Bức tranh Ascend in the Empyrean của hoạ sĩ Hieronymus Bosch miêu tả linh hồn về trời (Ảnh: apocalyptic-theories) |
Câu chuyện thần bí lan ra khắp nơi. Cha Francis Tiso – một cha đạo dòng thánh Benedict tại Mỹ cũng nghe được câu chuyện kỳ bí này. Ông là một trong những chuyên gia nghiên cứu về đạo Phật và đã có học vị tiến sĩ trong lĩnh vực này. Cha Francis Tiso tổ chức một chuyến đi đến Kham để ghi lại lời kể của những người đã chứng kiến sự kiện. Người mà cha Tiso muốn gặp nhất là vị Lạt ma đã được các học trò của Lạt ma A-chos hỏi ý kiến. Vị Lạt ma nói với cha Tiso rằng sự biến mất của Lạt ma A-chos là do một lực vật chất xuất phát từ trong linh hồn của ông ấy. Đây không phải là một câu nói mang hàm ý triết học hoặc ẩn dụ, điều ông muốn nói ở đây là một sự thực đã xảy ra. Vị Lạt ma đưa cho cha Tiso xem một bức ảnh của Lạt ma A-chos khi ông đã qua đời. Bằng mắt thường có thể nhìn thấy rất rõ một luồng ánh sáng phát ra từ thân thể của Lạt ma A-chos. Xem bức ảnh, cha Tiso thốt lên: “Đây là sự giao hoà giữa cái có thể và không thể, giữa một con người hiện hữu và con người siêu phàm. Một ngày nào đó chúng ta sẽ tìm được cơ sở để chứng minh rằng nó có thật”.
Điều mà cha Tiso muốn tìm trong sự kiện xảy ra tại Kham cũng nằm trong vấn đề lớn mà ông đang nghiên cứu, đó là có hay không sự tồn tại của linh hồn con người. Hiện nay, những cuộc tranh cãi xung quanh vấn đề này vẫn diễn ra quyết liệt. Mấu chốt của vấn đề nằm ở chỗ, nếu có sự tồn tại của linh hồn thì làm sao để xác định được. Những người cho rằng linh hồn là có thật dựa vào các tài liệu tôn giáo để chứng minh cho sự tồn tại của nó, còn người phản đối thì cho rằng các lập luận đó quá mơ hồ và không thể đủ độ tin cậy khi được kiểm chứng bằng các nghiên cứu khoa học.
Những kiểm chứng khoa học
Nhiều người đã cố gắng chứng minh sự tồn tại của linh hồn bằng các thí nghiệm khoa học. Một trong số đó là bác sĩ Duncan MacDougall. Sau khi tiến hành thí nghiệm trên 7 người chết, ông phát hiện rằng ngay sau khi qua đời, cân nặng của người chết giảm đi từ 11 đến 43g. Ông cho rằng đó là phần vật chất mà người ta thường gọi là linh hồn thoát ra khỏi thi thể. Sau này, nhiều người khác cũng thử lặp lại thí nghiệm của Duncan, nhưng câu trả lời cho sự tồn tại của linh hồn vẫn chưa được làm sáng tỏ. Phần trọng lượng bị mất đi đó của con người sau khi chết được giải thích chỉ đơn giản là sự bốc hơi của lượng nước có sẵn bên trong cơ thể.
Một bác sĩ khác cũng cố gắng chứng minh sự tồn tại của linh hồn bằng những thí nghiệm khoa học, đó là Gerard Nahum, giám đốc bộ phận nghiên cứu của công ty dược phẩm Berlex. Ông đã bỏ ra 20 năm chỉ để nghiên cứu lĩnh vực này. Theo Nahum, vấn đề khó nhất để xác định sự tồn tại của linh hồn là phải tìm được những chuỗi điện từ phát ra từ thi thể người chết. Ông đặt hàng loạt những máy dò hiện đại xung quanh thi thể (máy viba, máy dò tia hồng ngoại, tia gama, điện từ,…) để tìm ra “linh hồn”. Nahum chắc chắn rằng sau khi chết, tất cả những gì thuộc về người đó khi họ còn sống không thể ngay lập tức mất đi hoàn toàn được. Nó sẽ phải qua một quá trình chuyển biến đến một nơi nào đó trong không gian. Tại những nơi đó, chúng sẽ được giữ gìn và tồn tại vĩnh cửu. Nhưng khi ông thử trình bày ý tưởng của mình với các trường đại học tại Mỹ thì tất cả đều từ chối. Ngay cả nhà thờ Thiên Chúa giáo cũng không chấp nhận tài trợ cho những nghiên cứu của Nahum. Vì thế những nỗ lực của nhà khoa học này giậm chân tại chỗ…
“Đó không phải là thứ dành cho đôi mắt, mà là của trái tim. Đối với chúng ta, có lẽ sự nhìn nhận bằng đôi mắt và cả sự cảm nhận từ trái tim sẽ cho câu trả lời chính xác nhất” – Lời của vị Lạt ma mà cha Tiso gặp tại Kham đã nói.
Tại Đại học Virginia, một chuyên gia tâm thần học là Gruce Greyson cũng có các nghiên cứu liên quan đến sự tồn tại của linh hồn. Greyson là người đầu tiên tập trung vào tâm lý của những người đang ở ranh giới của sự sống và cái chết. Ông phát hiện ra rằng một vài người đang hấp hối đều nhìn thấy một luồng ánh sáng xanh rất mạnh, và cảm thấy một đường hầm đang dẫn họ về phía trước. Nhưng thực ra Greyson lại không hoàn toàn tin tưởng vào sự tồn tại của linh hồn. Ông cho rằng, phải có nhiều nghiên cứu nữa thì mới chứng tỏ được sự tồn tại hay không tồn tại của linh hồn.
Những câu trả lời có căn cứ từ khoa học hoặc tôn giáo hiện nay vẫn chưa thể coi là thoả đáng. Qua 30 năm tìm hiểu về trạng thái tâm thần của người hấp hối, ông đã phát hiện thấy khoảng 10% số người trong số các bệnh nhân suy tim đều có dấu hiệu hoạt động của não trong khi họ đang bất tỉnh. Sau khi được cứu chữa và tỉnh lại, những bệnh nhân này cho biết họ thấy những hoạt động của bác sĩ và y tá ở một điểm cao hơn. Tiếp tục nghiên cứu, Greyson cho đặt một màn hình với những giao diện khác nhau bên ngoài phòng cấp cứu bệnh nhân bị suy tim. Ông cho rằng, nếu thật sự có sự tồn tại của linh hồn, thì những người bị suy tim sau khi tỉnh lại sẽ biết được màu sắc của màn hình đặt tại phòng bên cạnh. 50 người đã được thử nghiệm, nhưng không một ai biết được màn hình có màu gì. Nhà khoa học giải thích rằng đó là do tác dụng của thuốc gây mê đã cản trở sự thoát ra của linh hồn.
Pim van Lommel, bác sĩ chuyên khoa tim người Đan Mạch cũng đồng ý với quan điểm của Greyson. Lommel cho rằng con người không chỉ có một ý thức, trong khi họ đang ở trong tình trạng hấp hối thì những ý thức khác hoạt động và mở rộng phạm vi của nó nhiều hơn so với bất cứ thời điểm nào trước đó. Lúc đó họ có thể hồi tưởng lại những khoảng thời gian xa xôi nhất trong quá khứ và cảm nhận được một cách rõ ràng hơn bình thường sự vật và con người xung quanh. Trong khi đó, thần kinh trung ương của họ vẫn đang ngừng hoạt động.
Những giả thiết trên đã đặt ra một sự nghi ngờ đối với kiến thức mà chúng ta đã biết và thừa nhận từ lâu: Ý thức là sản phẩm của não bộ. Điều đó giờ đây có thể không còn chính xác nữa. Bởi vì nếu như vậy, ý thức sẽ không thể tồn tại nếu não bộ ngừng hoạt động. Nhưng các thí nghiệm ở trên thì đều chứng minh cho điều ngược lại.
Còn hai học giả của trường Oxford là Stuart Hameroff và Roger Penrose lại giải thích sự tồn tại của linh hồn bằng quá trình lượng tử. Theo hai ông, não bộ con người được chia ra làm hàng tỉ ô siêu nhỏ, các ô này liên kết với nhau thông qua một quá trình di chuyển của các lượng tử. Khi cơ thể một người ngừng hoạt động, máu sẽ không được chuyển đến các ô này, và chúng cũng ngừng hoạt động. Nhưng sự di chuyển của các lượng tử thì không mất đi. Chúng sẽ thoát ra bên ngoài não bộ và ghi nhận những gì tồn tại ở không gian xung quanh. Nếu người đó tỉnh lại, các lượng tử sẽ quay trở lại não và hoạt động với chức năng thông thường của chúng. Những gì chúng ghi lại được khi thoát ra bên ngoài cũng được não bộ tiếp nhận. Và đó là lý do tại sao một người hấp hối nhưng sau đó được cứu sống lại có thể biết được những sự kiện mà anh ta không hề tận mắt chứng kiến hoặc được nghe kể lại.
Vậy nếu người đó không tỉnh lại được nữa thì các chuỗi lượng tử đó sẽ di chuyển đi đâu? Tiếp tục mở rộng giả thuyết của Hameroff và Penrose, bác sĩ Ian Stevenson đã nghiên cứu về khả năng các chuỗi lượng tử đó sẽ được tiếp nhận trong bộ não của trẻ sơ sinh, hay nói cách khác đó chính là sự tái sinh! Sau khi Ian Stevenson mất, con trai ông là Tucker tiếp tục theo đuổi giả thuyết này. Tucker tiến hành phỏng vấn rất nhiều trẻ em, trong số đó ông đã tập hợp được 1.400 em có khả năng biết được những sự kiện xảy ra trước khi chúng sinh. Thậm chí một vài em còn có thể kể rất rõ những sự kiện trong cả các giai đoạn phát triển rất sớm của lịch sử loài người.
Thực tế cho đến nay, dù có tập hợp được tất cả các công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này thì chúng ta cũng không thể nào biết được chính xác liệu có sự tồn tại của linh hồn hay không, và nếu có tồn tại thì chúng sẽ tồn tại ở dạng nào. Có lẽ khoa học không phải lúc nào cũng là giải pháp tối ưu cho tất cả mọi vấn đề. Như lời của vị Lạt ma mà cha Tiso gặp tại Kham đã nói: “Đó không phải là thứ dành cho đôi mắt, mà là của trái tim. Đối với chúng ta, có lẽ sự nhìn nhận bằng đôi mắt và cả sự cảm nhận từ trái tim sẽ cho câu trả lời chính xác nhất.”
Labels
Có gi hot?
Nhà ngoại cảm HỒ VĂN DŨ
Nhà ngoại cảm HỒ VĂN DŨ
(Mediafire) A hazard of hearts (1987) - Sự may rủi của trái tim - NEW LINK
(Mediafire) A hazard of hearts (1987) - Sự may rủi của trái tim - NEW LINK
NHÀ NGOẠI CẢM NGUYỄN THỊ HƯỜNG - Chuyên gia đón tiếp Vong linh tại Miền Trung
NHÀ NGOẠI CẢM NGUYỄN THỊ HƯỜNG - Chuyên gia đón tiếp Vong linh tại Miền Trung
Pride and Prejudice (1995) - 6 Mini - Vietsub - Mediafire
Pride and Prejudice (1995) - 6 Mini - Vietsub - Mediafire
P.S. I Love You – 2007 – Mediafire – Vietsub
P.S. I Love You – 2007 – Mediafire – Vietsub
The Quick and the Dead - 1995 - HDrip - Mediafire - Vietsub
The Quick and the Dead - 1995 - HDrip - Mediafire - Vietsub
Tangled (2010) - Mediafire - Công chúa tóc dài
Tangled (2010) - Mediafire - Công chúa tóc dài
Chèn Widget (Thêm tiện ích) vào bất kỳ vị trí nào trên phần tử trang blog
Chèn Widget (Thêm tiện ích) vào bất kỳ vị trí nào trên phần tử trang blog
Chả ốc Hà Nội - Món ngon đãi bạn phương xa
Chả ốc Hà Nội - Món ngon đãi bạn phương xa
Làm sao biết có kiếp trước, kiếp sau?
Làm sao biết có kiếp trước, kiếp sau?














